Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

PhD – 200 ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI NĂM 2012

 

Hàng năm Công Ty Đánh Giá Đại Học – QS World University Rankings – chọn 2000 đại học trên khắp thế giới, đánh giá và chọn lại 700 đại học, và cuối cùng chọn 200 đại học cho năm nay (Tháng 9/2012).

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Thấy gì qua những câu trả lời của ông Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân về điện nguyên tử?- Toàn là những lời nghịch lý!

Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam
Việt Nam thì rất “lạ” với nguyên tử, với điện hạt nhân nhưng lại rất “quen” với anh hùng; hồ hởi vô tư nhào vô làm ĐHN trong khi trong túi thì trống rỗngnợ như chúa chổm... ” – Ôi, vô tư đi! Chúng ta đã chả từng “Chân dép lốp bay vào vũ trụ” rồi là gì. Ta chỉ bay làm “ví dụ” thôi, từ đó có ai bay nữa đâu – vẫn tự hào như thường! Giờ ta làm NMĐHN cũng là “làm ví dụ” ý mà – giải ngân xong là ... xong! NMĐHN Ninh Thuận có sự cố gì thì lúc đó ngài Bộ trưởng đã về chầu Hà bá Diêm vương từ lâu lắm rồi và bọc tiền ngài kiếm được từ dự án thừa sức xây lăng tẩm cho ngài thật hoành tráng – biết đâu lăng của ngài lại chả to bằng cái lò phản ứng ý chứ chả chơi.
Bauxite Việt Nam
Bên lề cuộc hội thảo về điện hạt nhân tại Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức với sự góp mặt của một vài viên chức của tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Bộ trưởng Nguyễn Quân đã trả lời chất vấn của phóng viên một số báo chí trong nước như Thanh niên, VietNamNet , SGTT, VOV, Vietbao , Tuoi tre , Vn Express, Bee, Dân trí , TTXVN,...
Ngoài những thông tin ảm đạm về mọi mặt của chương trình điện hạt nhân mà ông Nguyễn Quân trình bày trong cuộc hội thảo: “ cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc thực hiện dự án nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN), bao gồm một phạm vi rộng lớn các vấn đề từ các cơ sở và thiết bị liên quan cho đến khuôn khổ luật pháp, nguồn nhân lực và nguồn tài chính,... còn đang ở trình độ phát triển thấp ”, những gì ông trả lời cùng giới truyền thông về vấn đề ĐHN toàn là những lời nghịch lý. Nghịch lý ngay cả với lời đoan quyết của ông Nguyễn Minh Triết khi còn đương chức Chủ tịch nước trước toàn dân Việt Nam: “ Điện hạt nhân không tuyệt đối an toàn thì nhất quyết không làm ”.
Nghịch lý thứ nhất: Một dự án tân tiến nhất với đầy ưu tiên và nhiều đãi ngộ lại không thu hút đủ nhân lực ?
Trong thời gian ba năm qua, từ ngày Quốc hội Việt Nam bị “nhóm lợi ích hạt nhân” tung hỏa mù lừa đảo, thông qua dự án điện hạt nhân vào tháng 11 năm 2009, cơ quan phụ trách ĐHN chỉ chiêu dụ được khoảng trên dưới 100 học viên tham gia chương trình huấn luyện từ số lượng hàng trăm ngàn học sinh sinh viên trên toàn quốc. Những lời chiêu dụ hấp dẫn như: làm trong ngành ĐHN với kỹ thuật “tiên tiến”, được đi nước ngoài học tập và được trả phụ cấp hậu hỹ... thì cứ ngỡ rằng, cả nước phải có hàng ngàn bạn trẻ ào ào nộp đơn như cảnh tượng mỗi khi có quảng cáo tuyển dụng tại các cơ quan, xí nghiệp công cũng như tư. Nhưng tiếc thay, kết quả của đề án phát triển nhân lực điện hạt nhân lại thật bi đát cả về số lượng cũng như chất lượng của số bạn trẻ đầu quân.
Sự thất bại của công tác tuyển dụng học viên cho NMĐHN không phải là vì lý do tiền hay chế độ chế độ đãi ngộ. Ông Bộ trưởng suy nghĩ thật là quá đơn giản, ông cứ tưởng trả lương cho những người làm tại NMĐHN rất hậu hĩnh, nhiều lần hơn lương của ông Bộ trưởng , thì sẽ có hàng ngàn thanh niên ưu tú xung phong, dù cho công việc có phải trực diện với nguy hiểm phóng xạ nguyên tử. Thực ra họ chỉ khuyến dụ được một số người với “ điểm chuẩn thấp, sinh viên tuyển không đủ, thậm chí bỏ học nhiều ”. Nếu mà việc làm tốt – ngồi mát ăn bát vàng, lương hậu hĩnh như ông Bộ trưởng tuyên bố thì làm gì có chuyện những người được tuyển cho đi Nga học về ngành ĐHN lọt được vào tay những người dân thường, đã không đủ để cho các con cháu của các ông lớn gửi gắm xí chỗ hết rồi. Các bạn trẻ Việt Nam không còn ngây thơ nhẹ dạ, và họ đã trả lời bằng hành động “tẩy chay” NMĐH. Sự kiện này gián tiếp nói lên sự không đồng thuận, chống đối của lớp trẻ với ĐHN vì tai hại khủng khiếp của ĐHN giáng xuống cho hàng trăm hàng ngàn hàng triệu người dân Việt Nam một khi thảm họa hạt nhân xảy ra tại NMĐHN.
Trong nước, với chủ trương ngăn chặn thông tin, bưng bít tin tức cập nhật của thế giới cũng không thể qua mặt được thanh niên Việt Nam về những thảm họa NMĐHN đã và đang xảy ra trên thế giới. Càng nghịch lý hơn khi ông tuyên bố sẽ chiêu dụ trí thức người Việt từ nước ngoài về làm việc tại NMĐHN của Việt Nam. Trí thức Việt Nam tại nước ngoài đã biết quá rành tình trạng lạc hậu về an toàn trong các ngành kỹ nghệ, không có ý thức bảo vệ môi trường ở trong nước, công trình bị rút ruột tràn lan, thử hỏi ai trong số trí thức Việt Nam tại nước ngoài đưa đầu vào “lỗ đen” phóng xạ hạt nhân trong khi tại các nước nơi họ sinh sống chính phủ đang cố gắng nhanh chóng thoát ly khỏi ĐHN vì hệ quả tệ hại khôn luờng của ĐHN một khi thảm họa xảy ra.
Nghịch lý thứ hai: Tiền, tiền và tiền, tiền đâu, đầu tiên !
Chi phí cho mỗi nhà máy ĐHN được tập đoàn xây NMĐHN tính sơ khởi tốn khoảng10 tỷ USD, nhưng khi tiến hành thì con số cứ thế mà tăng lên. Kinh nghiệm tại các nước Âu Mỹ, chi phí cuối cùng có thể bị đội lên thêm từ 30-50%. Việt Nam làm NMĐHN, phải vay toàn bộ 100%, sau đó phải giao cho tập đoàn ĐHN của nước cho vay đứng ra xây cất – Rosatom của Nga, Tepco và các tập đoàn khác của Nhật. Như vậy là tiền lại quay về nguồn, sau khi lại quả chút đỉnh (trích từ số tiền đội giá mà Việt Nam phải chi trả). Xây NMĐNT tại VN lại làm giàu cho các tập đoàn nước ngoài, giúp họ tống khứ các thiết bị lỗi thời không thể dùng trong nước với giá hời, cuối cùng nhóm lợi ích trong và ngoài nước được hưởng lợi, còn dân chúng và nhiều thế hệ con cháu cả nước Việt Nam được hưởng… NỢ. Và còn đội thêm cái “của nợ” giết người hàng loạt – phóng xạ nguyên tử. Để khuyến mãi (dụ), các tập đoàn ĐHN chi số tiền trợ giúp thấy có vẻ đầy tình nghĩa, trợ giúp đào tạo chuyên viên miễn phí hay chịu bớt 50% chi phí (Rosatom), trợ giúp xây dựng trung tâm huấn luyện, trường đại học “hạt nhân” với tổng kinh phí ngất ngưởng lên đến 500 triệu USD như được Tập đoàn Rosatom đề nghị chung chi khi lấy được contract (thủ tục “đầu tiên” để có được hợp đồng béo bở trên chục tỷ đô?)! Trên thế giới hiện tại không nước nào có đại học hạt nhân riêng biệt, ngon lành lắm thì chỉ có chuyên ngành vật lý hạt nhân vào năm cuối của chương trình cử nhân, hay hậu đại học.Việt Nam mình lại nhất rồi, vượt cả thế giới vì sắp có đại học hạt nhân!)
Nghịch lý “mẹ của tất cả nghịch lý” !
Cả nước Nhật tuy đã quen với điện hạt nhân hơn 50 năm mà dân chúng và chính phủ của họ lại quyết tâm từ bỏ điện hạt nhân. Kinh tế Nhật bị thiệt hại trầm trọng, công ty hàng đầu về ĐHN Tepco đã bị sạt nghiệp vì thảm họa hạt nhân Fukushima.
Mỹ cũng đã quen với bom nguyên tử, điện nguyên tử hơn nửa thế kỷ; sau thảm họa NMĐHN “Five Mile Island” năm 1979, họ vội vàng ngưng xây thêm NMĐHN. Và mới đây, ngày 14-08-2012 , tòa kháng án tại Washington DC đã ra án lệnh ngưng cấp giấy phép xây cất NMĐHN, ngưng gia hạn giấy phép vận hành các NMHN trên toàn nước Mỹ vì sự mất an toàn trầm trọng của hàng đống thanh nhiên liệu hạt nhân phế thải tại NMĐHN do không có nơi bảo quản an toàn. Các nước khác tại Âu Châu cũng rất quen với ĐHN hơn 50 năm qua, đang nhanh chóng từ bỏ ĐHN trở về điện truyền thống và điện tái tạo. Tại nước Nga cộng sản trước kia rồi hiện nay dưới chế độ Putin, đã và đang hứng chịu hậu quả liên tiếp của nhiều thảm họa điện hạt nhân – Chernobyl, Kursk, Tomsk ,... xuất xứ từ tập đoàn ĐHN “mafia” Rosatom đầy “xì căn đan” về ăn chặn, rút ruột công trình xây cất NMĐHN, cung cấp thiết bị lò phản ứng nguyên tử dùng vật liệu kém phẩm chất.
Việt Nam thì rất “lạ” với nguyên tử, với điện hạt nhân nhưng lại rất “quen” với anh hùng; hồ hởi vô tư nhào vô làm ĐHN trong khi trong túi thì trống rỗng – nợ như chúa chổm và các tập đoàn nhà nước trong đó có Tập đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN) – tập đoàn phụ trách dự án ĐHN – tham nhũng tràn lan và đã hoặc sắp sạt nghiệp, trình độ kỹ thuật sơ khai chậm tiến, pháp quy an toàn kỹ nghệ môi trường là con số zero to tướng nói chi đến an toàn phóng xạ hạt nhân, nhưng lại nhiệt tình và cuồng loạn ép buộc toàn dân lao vào địa ngục thảm họa phóng xạ hạt nhân. Lãnh đạo đảng cộng sản VN, bị mê hoặc bởi các nhóm lợi ích, vẫn cố chấp triển khai dự án NMĐHN, giao cho Rosatom rồi Tepco, Nhật Bản, lèo lái con tàu phóng xạ NMĐHN “không bến” về đáp tại Ninh Thuận Việt Nam.
Đến năm 2020-2030 nước Nhật Bản không còn NMĐHN, nhưng ngược lại,Việt Nam, đất nước “anh hùng” sợ gì phóng xạ nguyên tử – chuyện nhỏ, từ năm 2020 sẽ có NMĐHN và được tập đoàn nổi tiếng thế giới về tham nhũng rút ruột lò phản ứng hạt nhân Rosatom xây cho!
Đây là nghịch lý khủng, “ mẹ của tất cả nghịch lý ”, mà chỉ Việt Nam mới có loại đại nghịch này.
Thế giới đang từ bỏ điện nguyên tử. Điện nguyên tử tuyệt đối không an toàn!
Việt Nam tuyệt đối không được làm điện nguyên tử, theo pháp lệnh của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết!
NH - THN
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Tài liệu tham khảo :
- Cơ sở hạ tầng điện hạt nhân Việt Nam còn thấp
- Thủ tướng Nhật tái khẳng định quyết tâm từ bỏ lệ thuộc điện hạt nhân
- Xây nhà máy điện hạt nhân: Lưu ý bài học Fukushima
- Nhật Bản: người dân biểu tình chống điện hạt nhân http://tuoitre.vn/The-gioi/507973/Nhat-Ban-nguoi-dan-bieu-tinh-chong-dien-hat-nhan.html
-Việt Nam làm điện hạt nhân khi cơ sở hạ tầng thấp
-NRC Freezes All Nuclear Reactor Construction and Operating Licenses in US
- Nhà máy điện hạt nhân – Nhật Bản tìm cách nhanh chóng tháo bỏ; Việt Nam tích cực xúc tiến việc xây dựng! http://www.boxitvn.net/bai/40406
- Rosatom-owned company accused of selling shoddy equipment to reactors at home and abroad, pocketing profits
- Nuclear power plant accidents: listed and ranked since 1952
Xem thêm:
SGTT.VN - Các chính sách ưu đãi dành cho những người làm việc trong lĩnh vực điện hạt nhân sẽ sớm được công bố công khai, bộ trưởng bộ Khoa học và công nghệ (KHCN) Nguyễn Quân khẳng định với báo giới bên lề hội thảo “Phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân”, do bộ này phối hợp cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) tổ chức ngày 23.8 tại Hà Nội.
clip_image002
Cán bộ lĩnh vực điện hạt nhân phải chấp nhận rủi ro trong quá trình xây dựng, vận hành nhà máy.
Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam dự kiến khởi công năm 2014. Đề án phát triển nhân lực điện hạt nhân được giao cho năm trường đại học nhưng lấy điểm chuẩn rất thấp, sinh viên tuyển không đủ, thậm chí bỏ học nhiều. Vậy đâu là căn cứ để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực cho nhà máy, thưa bộ trưởng?
Chúng ta gặp nhiều khó khăn do chính sách đối với người đi học, người sẽ làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, trong nhà máy điện hạt nhân chưa được công bố công khai nên chưa tạo được động lực để thu hút. Người học cũng đòi hỏi khắt khe hơn so với những lĩnh vực khác do cần có trình độ cao, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý hạt nhân. Bên cạnh đó họ còn phải chấp nhận rủi ro trong quá trình xây dựng, vận hành nhà máy sau này.
Trong mấy năm qua, Việt Nam đã hợp tác với Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Mỹ… đào tạo đội ngũ các nhà khoa học trẻ. Chúng ta đã gửi được 200 người sang Nga, khoảng 300 người sang các quốc gia khác học tập ngắn và dài hạn. Bộ cũng đã kiến nghị Chính phủ sớm công bố công khai chế độ đối với người đi học, người làm việc trong lĩnh vực này. Khi đó, có thể sẽ có sinh viên giỏi học ngành điện hạt nhân, người giỏi sẽ không bỏ nghề.
Những chế độ mà ông vừa đề cập, cụ thể là gì?
Ví dụ như người đi học, ngoài học bổng của Chính phủ và học bổng của quốc gia theo học cần có thêm phụ cấp đặc biệt để đảm bảo cuộc sống của họ, gia đình. Sinh viên đang học các chuyên ngành điện hạt nhân ở Việt Nam cần được cấp học bổng, tạo điều kiện thuận lợi nhất. Những người sẽ vận hành nhà máy điện hạt nhân trong tương lai, do phải tiếp xúc với môi trường phóng xạ, rủi ro cao nên mức lương phải cao, có thể cao hơn lương bộ trưởng.
Từ nay tới năm 2020, chúng ta có chuẩn bị đủ nhân lực cho việc vận hành nhà máy?
Chính phủ dành ngân sách 2.000 tỉ đồng cho chương trình đào tạo cán bộ hạt nhân. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng dành 1.000 tỉ đồng cho việc đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành. Trong nước, có năm trường đại học lớn đào tạo kỹ sư điện hạt nhân. Số kỹ sư này sau đó được cử đi nước ngoài thực tập. Chúng ta đào tạo đầy đủ bao gồm chuyên gia pháp quy, chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia tư vấn giám sát phục vụ cho xây dựng và vận hành nhà máy sau này.
Còn việc thu hút các nhà khoa học Việt kiều về nước làm việc?
Chúng ta luôn mở rộng cửa chào đón và tạo môi trường làm việc tốt nhất cho các nhà khoa học. Hiện đã có nhiều nhà khoa học Việt kiều về nước. Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn nên trước mắt chúng tôi chỉ sử dụng một phần ngân sách nhà nước, còn lại, chúng tôi vận động tài trợ từ cơ quan quốc tế, quốc gia nhằm đảm bảo chi phí tối thiểu cho các nhà khoa học.
Về cơ sở hạ tầng, chúng ta chuẩn bị xây dựng một trung tâm khoa học công nghệ hạt nhân do Liên bang Nga giúp đỡ, trị giá 500 triệu USD. Ngoài ra, với các cơ sở nghiên cứu hiện có của Việt Nam, chúng tôi cho rằng tới năm 2017 – 2018 sẽ có cơ sở đầy đủ phục vụ công việc của các nhà khoa học.
Ngoài vấn đề nhân lực, theo ông, thách thức lớn nhất đặt ra đối với phát triển hạ tầng cho nhà máy điện hạt nhân hiện nay là gì?
Trước nhất và quan trọng nhất là tài chính. Việt Nam còn là nước đang phát triển, tiềm lực tài chính chưa mạnh. Toàn bộ tài chính cho điện hạt nhân Việt Nam phải dựa vào nguồn vốn ODA của Nga, Nhật Bản. Thách thức thứ hai là Việt Nam xây nhà máy điện hạt nhân ngay sau khi xảy ra thảm hoạ Fukushima, làm dấy lên làn sóng không đồng thuận với điện hạt nhân, mặc dù công nghệ mà Việt Nam lựa chọn đã đảm bảo mức an toàn rất cao. Tuyên truyền tới người dân để tạo sự đồng thuận trong việc này là thách thức rất lớn.
Các chuyên gia Nga có tiến hành khảo sát lại địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân không và đến thời điểm này, ta đã chốt được điểm xây dựng chưa, thưa ông?
Hiện nay, cơ quan tư vấn khảo sát địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân đang lập báo cáo để trình bộ Công thương và ban chỉ đạo Nhà nước về điện hạt nhân, chưa có báo cáo cuối cùng nên chưa thể nói cụ thể các đề xuất được.
Còn theo dự kiến, năm 2014 Việt Nam sẽ khởi công nhà máy đầu tiên. Tuy nhiên, thời điểm khởi công phụ thuộc nhiều vào công tác chuẩn bị, trong đó có cơ sở hạ tầng. Chúng ta không đặt mục tiêu khởi công đúng tiến độ mà chỉ xây dựng khi đảm bảo đủ an toàn về an ninh, pháp lý, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực.
Sau sự cố Fukushima, tất cả các quốc gia đều được cảnh báo phải tăng cường cơ sở hạ tầng để bảo đảm an ninh cho điện hạt nhân, Việt Nam thì sao?
Đúng là sau sự cố Fukushima, vấn đề an ninh, an toàn cho điện hạt nhân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Việt Nam đã có sự hợp tác với IAEA để thực hiện dự án phát triển hạ tầng cho Việt Nam. Chính phủ đã khẩn trương hợp tác với Nga, Nhật Bản, IAEA để tiến hành các hoạt động đồng bộ trên cả ba mặt: hạ tầng pháp lý; hệ tầng nghiên cứu phát triển và nhân lực. Đây là bước quan trọng để khởi công nhà máy Ninh Thuận.
Thanh TuyỀn ( Thực hiện)
Ông Alexander Bychkov, phó tổng giám đốc IAEA:
Chúng tôi cung cấp kinh nghiệm tốt nhất, hy vọng các bạn lắng nghe!

Chuyến thăm nhà máy điện hạt nhân của Nhật gần khu vực Fukushima gần đây cho thấy không có tác động nào thực sự quan trọng nếu xảy ra động đất ở đây. Mức độ an toàn hạt nhân trong xây dựng và vận hành nhà máy điện sẽ không có vấn đề gì. Các nhà máy điện hạt nhân vẫn được xây dựng ở Đông Âu. Hiện nay, các nhà cung cấp công nghệ và thiết bị hạt nhân đã tích cực cải tiến công nghệ an toàn. Chúng tôi sẽ cố gắng cung cấp kinh nghiệm tốt nhất, thông lệ tốt nhất, đưa ra tư vấn tốt nhất cho Chính phủ Việt Nam, hy vọng các bạn sẽ lắng nghe, đánh giá về lời khuyên tư vấn đấy một cách phù hợp. Tôi tin các bạn sẽ thành công trong chương trình của mình tới năm 2020.

Ông James Lyons, trưởng phòng An toàn cơ sở hạt nhận, vụ An toàn và an ninh hạt nhân – IAEA:

“Thiết lập khuôn khổ an toàn”

Việc thiết lập một cơ quan pháp quy độc lập, hiệu quả và vững mạnh là vấn đề cần thiết để đảm bảo một chương trình điện hạt nhân an toàn. Trong trường hợp có nhiều cơ quan có trách nhiệm về vấn đề an toàn, Chính phủ phải xây dựng điều khoản về việc phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan để tránh sự bỏ sót, trùng lặp không cần thiết.


http://webwarper.net/ww/~av/boxitvn.blogspot.com/2012/08/thay-gi-qua-nhung-cau-tra-loi-cua-ong.html

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Công nghiệp vi mạch, bao giờ thành hình?


SGTT.VN - Có thể nói, công nghiệp vi mạch Việt Nam hiện nay vẫn là con số không tròn trĩnh vì chỉ có một trung tâm nghiên cứu và thiết kế vi mạch, còn nhà máy sản xuất vi mạch đang nằm trên giấy. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ linh kiện bán dẫn ở Việt Nam lên tới 2 tỉ đôla Mỹ mỗi năm.

“Qua các số liệu phân tích của các công ty nghiên cứu thị trường, nhu cầu tiêu thụ linh kiện bán dẫn ở Việt Nam trong năm 2012 ước chừng 2 tỉ đôla Mỹ. Trong đó, nhóm sản phẩm bán dẫn tương tự (analog) kết hợp với các tính năng kỹ thuật số khoảng 1,3 tỉ đôla Mỹ, phần còn lại thuộc về nhóm linh kiện bán dẫn kỹ thuật số”. TS Bùi Ngọc Châu, cố vấn của trung tâm nghiên cứu và thiết kế vi mạch (ICDREC), trực thuộc đại học Quốc gia TP.HCM cho biết như vậy.

Kỹ thuật viên của ICDREC đang kiểm định lõi IP trước khi đưa vào thiết kế vi mạch. Ảnh: Minh Phúc

Có gì sau 30 năm?

Con số trên quả là hấp dẫn nếu như Việt Nam có đầy đủ năng lực về công nghệ, nhà máy và con người cho lĩnh vực công nghiệp sản xuất vi mạch. Thế nhưng hiện nay, giá trị của ngành công nghiệp này theo số liệu của TS Châu, hoàn toàn nằm ở trong tay các tập đoàn nước ngoài chỉ vì Việt Nam chưa có nhà máy sản xuất vi mạch.

Việt Nam hiện nay cũng đã có nhiều nhà đầu tư về vi mạch như Renesas, Applied Micro… nhưng công việc của họ chỉ dừng lại ở khâu nghiên cứu và thiết kế, sau đó, đem về công ty mẹ gia công hoặc sản xuất ở một nhà máy nào đó. Còn ở trong nước, hiện chỉ có ICDREC là đơn vị nghiên cứu, thiết kế và sản xuất vi mạch nhưng cũng chỉ là thử nghiệm để khẳng định trình độ và năng lực trong ngành vi mạch hơn là sản xuất phục vụ xã hội và cộng đồng. “Quy mô của chúng tôi chỉ đủ sức làm những vấn đề về vi mạch để khẳng định rằng đội ngũ kỹ thuật của chúng tôi sẵn sàng làm được chip, từ 8 bit cho đến 32 bit cho những sản phẩm thông dụng trong đời sống và trong quốc phòng. Muốn xây dựng và phát triển công nghiệp vi mạch đúng với định nghĩa của nó, cần có bàn tay của Chính phủ và các bộ ngành”, ông Ngô Đức Hoàng, giám đốc ICDREC chia sẻ.

TS Đỗ Văn Lộc, nguyên vụ trưởng vụ Công nghệ cao (bộ Khoa học và công nghệ) xác nhận: “Hiện nay, Việt Nam chưa hình thành cái gọi là công nghiệp vi mạch. Hơn 30 năm trước, chúng ta đã có những bước đi manh nha cho ngành công nghiệp này. Nhưng đáng tiếc, do nhiều yếu tố tác động mà lĩnh vực này đã chết cho đến hôm nay”. Cũng theo TS Lộc, tính cho đến nay, số vốn đầu tư của bộ cho dự án vi mạch lớn nhất từ trước đến nay là 124 tỉ đồng cho trung tâm ICDREC nghiên cứu và thiết kế vi mạch cho chip xử lý ứng dụng RFID trong thời gian bốn năm.

Số tiền 124 tỉ đồng của bộ cấp cho ICDREC chỉ là số vốn cấp cho một dự án cấp nhà nước, không hơn không kém. Một chuyên gia trong lĩnh vực vi mạch nói rằng, không thể phát triển một ngành công nghiệp từ đồng vốn “quá khiêm tốn” như vậy được.

Hy vọng từ TP.HCM

Từ những việc làm ban đầu của ICDREC và đại học Quốc gia TP.HCM, thay vì chờ những định hướng từ Chính phủ và các bộ ngành, TP.HCM đã tiên phong trong việc xây dựng ngành công nghiệp vi mạch theo quy trình đồng bộ, từ nghiên cứu, thiết kế cho đến sản xuất. TS Lộc thừa nhận rằng, nếu không có những việc làm của các tổ chức nghiên cứu về vi mạch như ICDREC và những động thái mạnh mẽ của TP.HCM, khó xây dựng những chính sách chung để phát triển công nghiệp vi mạch Việt Nam.

Qua nhiều năm chuẩn bị về mô hình công nghệ, chính sách đào tạo nhân lực, chiều ngày 22.8.2012, phó chủ tịch UBND TP.HCM kiêm trưởng ban chỉ đạo chương trình phát triển công nghiệp vi mạch TP.HCM Lê Mạnh Hà đã đồng ý về mặt chủ trương kế hoạch phát triển vi mạch TP.HCM. Đây cũng được xem là chương trình nòng cốt của công nghiệp vi mạch quốc gia. Nguồn tiền ban đầu cho chương trình này, theo ông Lê Mạnh Hà là 7.506 tỉ đồng. Trong đó, ngân sách TP.HCM sẽ có kế hoạch hỗ trợ 453 tỉ đồng, phần còn lại, các doanh nghiệp có tham gia chương trình sẽ vay ngân hàng Phát triển Việt Nam 5.634 tỉ đồng, vay chương trình kích cầu của TP.HCM là 669 tỉ đồng... Điểm nhấn của chương trình này là tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn được đồng ý làm chủ dự án xây dựng nhà máy sản xuất chip điện tử được đặt tại khu công nghệ cao TP.HCM với vốn đầu tư ước tính là 6.600 tỉ đồng.

Theo đề án của tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn, công nghệ của nhà máy sản xuất tấm nền 8 inch với công nghệ CMOS 180nm (nanomet). Thiết kế ban đầu của nhà máy này có công suất 300 triệu sản phẩm/năm. Nhiều chuyên gia vi mạch cho rằng, việc lựa chọn công nghệ 180nm sẽ “tụt hậu” quá xa so với công nghệ hiện nay trên thế giới. Nhưng theo TS Bùi Ngọc Châu, việc lựa chọn công nghệ 180nm sẽ giúp giảm giá thành đầu tư ban đầu, dễ dàng chuyển giao và sử dụng. “Vì Việt Nam chưa từng sản xuất linh kiện bán dẫn, nên chỉ cần thiết lập một nhà máy không ở công nghệ cao nhất, đủ để cung cấp cho thị trường bán dẫn nội địa, đào tạo nguồn nhân lực có kinh nghiệm hơn trong lĩnh vực vi mạch. Từ nhà máy này sẽ thúc đẩy một hệ sinh thái sản xuất từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất cho đến những phần mềm ứng dụng tích hợp trong một hệ thống hoàn chỉnh”.

Chương trình sản xuất vi mạch điện tử là chương trình ưu tiên của TP.HCM giai đoạn 2011 – 2015. Hiện tại, những kế hoạch của TP.HCM từ việc xây dựng nhà máy cho đến các dự án hỗ trợ đang ở giai đoạn “đồng ý về mặt chủ trương”. Trong thời gian tới, cần có sự quyết tâm của tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn và cũng như sự quyết liệt hỗ trợ của chính quyền TP.HCM để kế hoạch sớm thành hiện thực.

Gia Vinh

SGTT

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Những Code Thông Dụng Cho Blogspot


Post By: Võ Quốc An On: 25-08-2012 3 comments
Nhằm phục vụ cho một loạt các bài viết sắp tới trên blog và cũng để blogger nhà ta hiểu thêm về code nên hôm nay mình chia sẻ lại một số code thông dụng thường gặp trong quá trình viết bài cũng như thiết kế blog. Hy vọng sẽ giúp ích được cho các bạn.

Bài viết này và bài viết css căn bản của mình có vài thành phần trùng nhau nhưng do mình sưu tầm trên blog khác nên mình xin giữ nguyên văn.





1. Font, màu chữ, thụt vào đầu dòng (Dùng dòng 1 hay 2 đều như nhau)
#339966; font:12pt Tahoma; margin-left:12px;">Nội_dung
#339966; font-family:Tahoma; font-size:12pt; margin-left:12px;">Nội_dung
#339966 // Mã màu cho chữ
12pt Tahoma // Cỡ chữ và font chữ
margin-left:12px // Số pixel (khoảng cách) chữ thụt vào đầu dòng. Có thể thay left bằng right cho chiều ngược lại.

2. Canh giữa, canh phải
center;">Nội_dung
center // Thay center = right cho canh phải

3. Định dạng chữ: Đậm, Nghiêng, Gạch chân, Gạch ngang chữ
Nội_dung_in_đậm Nội_dung_in_nghiêng Nội_dung_gạch_chân Nội_dung_chữ_bị_gạch_ngang
4. Dấu chấm vô dòng con, đánh số đầu dòng
Dấu chấm vô dòng con

  • Nội_dung1

  • Nội_dung2

  • Nội_dung3



Đánh số đầu dòng

  1. Nội_dung1

  2. Nội_dung2

  3. Nội_dung3

5. Bookmark đến một vị trí nhanh trong bài viết
LINK_bài_viết#Tên_gán_cho_vị_trí ">Nội_dung
Tên_gán_cho_vị_trí ">Nội_dung
Lưu ý:
Tên cách nhau không được dùng khoảng trắng mà phải dùng shift gạch. (VD: nhà_xinh)
Tốt nhất không nên dùng chữ có dấu cho tên gán.

Ví dụ:
- Đến điểm A (Đến điểm A)
- ...
- Điểm A (Điểm A)
Code trong ngoặc là chú thích cho ví dụ.
Như vậy khi ta click chuột vào "Đến điểm A" thì lập tức lệnh sẽ đưa ta nhảy đến vị trí "Điểm A".

6. Chèn Flash vào bài viết (Chọn loại 1 hay 2 đều được)
1.
center;">LINK_FLASH" width="900" height="300"
type="application/x-shockwave-flash" scale="" play="true" loop="true"
menu="true">

2.
LINK_FLASH" bgcolor="#000000" type="application/x-shockwave-flash" allowscriptaccess="none" width="400" height="400">
7. Chèn hình ảnh (image) vào bài viết
1. Code đơn giản
LINK_ẢNH" title="Ghi_chú" alt="Mô_tả"/>
2. Code mở rộng
LINK_ẢNH" title="Ghi_chú" alt="Mô_tả" align="bottom" width="400" height="400"/>
Ghi_chú // Khi rê chuột lên ảnh, sẽ hiện chú thích.
Mô_tả // Khi rê chuột lên ảnh, sẽ hiện chú thích.
Sử dụng hai lệnh này thì khi người dùng truy cập blog chọn không hiển thị ảnh thì sẽ hiện dòng chữ này thay cho ảnh đó.
align="bottom" // Vị trí ảnh so với chữ. Có thể đổi thành middle(giữa) - top(trên) - bottom(dưới). Không dùng, để mặc định theo blog chọn sẵn thì xóa nó đi.

8. Chèn link liên kết vào bài viết
LINK" target="blank">Tên_Link
target="blank" // Mở link liên kết trong một trang mới. Bỏ lệnh này thì trang mới sẽ được mở ngay tại trang đang dùng (nghĩa là trang đang dùng sẽ bị load qua trang link ta vừa click vào). Nếu người dùng có thói quen "Open new tab" thì lệnh này có hay không cũng không khác biệt.
Ví dụ:
- Dùng target="blank" - XEM
- Không dùng target="blank" - XEM

9. Chèn ảnh chứa link
LINK" target="blank">LINK_ẢNH"/>
10. Tạo button ẩn hiện nội dung


Xem" style="width:75px; font-size:11px; margin:0px; padding:4px; border="1"" onclick="if (this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != '') { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = '';this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn'; } else { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value = 'Xem'; }">



NỘI_DUNG


Ví dụ:

11. Chèn nhạc vào bài viết
width=300 height=45>
autostart="0" showstatusbar="0" ShowControls='true' loop='0' name='hat'>
LINK_NHẠC // Phải là link trực tiếp (VD: http://...bài_hát.mp3)
loop='0' // Không lặp lại
loop='1' // Lặp lại một lần
loop='-1' // Lặp lại mãi mãi
autostart="0" // Không tự play
autostart="1" // Play ngay khi web tải xong

12. Chia 2 cột, 3 cột, 4 cột


font:12px Tahoma; color:#000000; width:120px;padding:4px;" valign="top">
column_1">
Nội_dung_cột_1

font:12px Tahoma; color:#000000;width:120px;padding:4px;" valign="top">
column_2">
Nội_dung_cột_2

Thêm cột thì thêm trên dòng đoạn code:
font:12px Tahoma; color:#000000;width:120px;padding:4px;" valign="top">
column_n">
Nội_dung_cột_n


13. Viền khung một nội dung trong bài viết
#4F4F4F 1px solid; padding: 4px; background:#eee; width:400px;">
NỘI_DUNG
#4F4F4F 1px solid // Lần lượt là: Mã màu - Độ dày đường viền - Loại đường viền.
- solid ______________
- dashed ----------------
- dotted ......................
background:#eee // Nền khung
width:400px // Bề rộng khung. Mặc định là sẽ rộng bằng khung bài viết (nếu bỏ lệnh này đi)

14. Chèn khung chứa code có thẻ "Select all" (Không cần mã hóa code)

cols="59" // Bề rộng khung chứa code
rows="18" // Số dòng trong khung chứa code
wrap="on" // Trong một dòng, chữ dài quá khung sẽ hiện thanh trượt kéo ngang qua
wrap="off" // Nhiều dòng chữ quá số dòng khung quy định sẽ hiện thanh trượt kéo xuống

Ví dụ:

15. Ảnh rõ hơn khi rê chuột vào
1. Ảnh có chứa link
link_liên_kết" target="blank">
opacity=0.6;this.filters.alpha.opacity=60" style="opacity:0.6;filter:alpha(opacity=60)" src="LINK_HÌNH"/>


2. Ảnh không chứa link
opacity=0.6;this.filters.alpha.opacity=60" style="opacity:0.6;filter:alpha(opacity=60)" src="LINK_HÌNH"/>
opacity=0.6opacity=60 // Ảnh mờ trước khi rê chuột vào.
Lưu ý: Nếu thay đổi độ mờ thì phải thay đổi cả 4 giá trị.

Ví dụ:

16. Tạo hiệu ứng hiện ảnh khác khi rê chuột vào ảnh
1. Ảnh có chứa link
link_liên_kết" target="blank">LINK_HÌNH_THAY_THẾ'" onmouseout="this.src='LINK_HÌNH'" src="LINK_HÌNH" >

2. Ảnh không chứa link
LINK_HÌNH_THAY_THẾ'" onmouseout="this.src='LINK_HÌNH'" src="LINK_HÌNH" >

Ví dụ:

17. Tạo hiệu ứng khi rê chuột vào link liên kết
LINK" target="blank" onmouseover="oldColor=this.style.backgroundColor;this.style.backgroundColor='#eee';" onmouseout="this.style.backgroundColor=oldColor;">NAME_LINK
LINK // Link liên kết
#eee // Mã màu khi rê chuột lên
NAME_LINK // Tên gán cho link liên kết

18. Chèn trang HTML vào bài viết (Chèn trang web vào bài viết)
scrolling=yes // Cho hiện thanh trượt, ngược lại không dùng thì sữa thành no
frameborder="0" // Đường viền, 0 là không viền

Ta có thể dùng lệnh này để chèn bất cứ trang nào dạng HTML (Ví dụ: http://abc.html) vào bài viết đều được hết :)

Ví dụ: Xem tại đây

19. Các loại đường viền | border: 1px #ccc solid;
Dashed - - - - - - - - - - - - - - - - -
Solid _____________________
Dotted ..................................
20. Các kiểu định dạng chữ | text-decoration:none;
none (Không định dạng)
underline (Gạch đích)
overline (Gạch trên đầu)
line-through (Gạch ngang chữ)
blink (Chớp chớp)
inherit
21. Thêm các định dạng link vào class
/*Link cố định*/
a:link {
color:#3366ff;
text-decoration:none;
}

/*Link đã xem qua*/
a:visited {
color:#ccc;
text-decoration:none;
}

/*Link khi rê chuột vào*/
a:hover {
color:#339966;
text-decoration:underline;
}
22. Tạo bóng đổ và bo tròn 4 góc viền
/*Tạo bóng đổ*/
box-shadow: 8px 8px 8px #616D7E;
-webkit-box-shadow: 8px 8px 8px #616D7E;
-moz-box-shadow: 8px 8px 8px #616D7E;

/*Tạo bóng đổ 4 cạnh*/
box-shadow: 0px 0px 8px #616D7E;
-webkit-box-shadow: 0px 0px 8px #616D7E;
-moz-box-shadow: 0px 0px 8px #616D7E;

/*Bo tròn 4 góc viền*/
border-radius:4px;

/*Bo tròn tùy chọn: top, right, bottom, left*/
border-radius:4px 4px 4px 4px;
Thay box thành text cho chữ

23. Các loại định dạng list | ... ul {list-style-type:none;}
none: Không hiển thị đánh dấu
disc: Chấm vuông
circle: Chấm tròn trắng
square: Chấm tròn đen
decimal: Kiểu số (1,2,3,4,…)
lower-alpha: Kiểu Alphabet ở dạng in thường (a, b, c, d, e, …)
upper-alpha: Kiểu Alphabet ở dạng in hoa (A, B, C, D, E, …)
lower-roman: Kiểu La Mã ở dạng thường (i, ii, iii, iv, v, …)
upper-roman: Kiểu La Mã ở dạng in hoa (I, II, III, IV, V, …)
/*Link hình thay cho list*/
list-style-image:url('Link_hình');

24. Các vị trí đặt ảnh nền background | background: url(image) repeat ;
repeat: lặp ảnh
repeat-y: lặp ảnh theo chiều dọc (từ trên xuống)
repeat-x: lặp ảnh theo bề ngang (từ trái qua)
no-repeat: không lặp

top: đặt ảnh trên mép cùng
top right: đặt ảnh mép trên cùng góc phải
top left: đặt ảnh mép trên cùng góc trái
bottom: đặt ảnh mép dưới cùng
bottom left: đặt ảnh mép dưới cùng góc trái
bottom right: đặt ảnh mép dưới cùng góc phải
right: đặt ảnh bên mép phải
left: đặt ảnh bên mép trái
center: đặt ảnh ở vị trí giữa
25. Code xem địa chỉ IP, thông tin của máy truy cập blog
(Có thể post vào widget bất kỳ ở trên blog)
26. Cách mã hóa code
Với ký tự < phải đổi thành <
Với ký tự > phải đổi thành >
Với ký tự & phải đổi thành &
Với khoảng trắng phải đổi thành
Để post các chú thích kí tự trên lên blog được thì:
< phải đổi thành &lt;
> phải đổi thành &gt;
& phải đổi thành &amp;
27. Các lệnh điều kiện

1. Điều kiện ở trang chủ

...
2. Điều kiện ở trang bài viết

...
3. Điều kiện ở trang chủ, trang nhãn

...
4. Điều kiện ở các trang lưu trữ

...
5. Điều kiện ở các trang tĩnh

...
6. Điều kiện ở một trang riêng biệt nào đó

...
Nếu thay == thành != thì kết quả sẽ ngược lại - Nghĩa là sẽ loại trừ trang đặt điều kiện ra và lấy phần ngược lại (các trang còn lại)

Ví dụ: Điều kiện loại trừ trang bài viết

...
28. Thêm chữ ký hay ghi chú dưới mỗi bài viết (Đặt dưới dòng )


Nội_dung
Nội_dung // Ghi chú nội dung của bạn, có thể dùng hình ảnh, màu chữ, canh lề,v.v..

29. Script chèn file .js vào blog
31. Thêm nhanh khung hướng dẫn hay nội quy comment
- Tìm đến thẻ
- Đôi khi có tên là
- Thêm vào sau nó đoạn code sau:

Nội dung nội quy comment của bạn

- Sau mỗi hàng phải thêm cặp thẻ

hoặc
nếu muốn xuống dòng.
- Có thể dùng các code trang trí cho khung như: hình ảnh, màu chữ, v.v..

Ví dụ: Code chèn nội dung hướng dẫn comment giống ở blog mình.


Bạn có thể sử dụng một số thẻ HTML như:



Nguồn bài viết: Cây Tầm Gửi Blog
Tác giả bài viết: Võ Quốc An

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Dioxin - Một sự thật gây sốc


62 người trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (chủ yếu thuộc hai quận Hải Châu và Thanh Khê) được chọn ngẫu nhiên xét nghiệm khảo sát nồng độ dioxin và kết quả mới được công bố là 100% mẫu máu đều bị nhiễm chất độc này.

Đây là những người không có trong danh sách các nạn nhân chất độc da cam của thành phố, không có biểu hiện bị nhiễm dioxin như nhiều nạn nhân khác. Đầu tháng 9 này, 25 người (đợt 1) sẽ được ra Bệnh viện 103 - Học viện Quân y (Hà Nội) điều trị tẩy độc trên cơ thể bằng phương pháp Hubbard...

Cả họ bàng hoàng


Ông Võ Được chưa từng nghĩ trong cơ thể mình lại có dioxin, nhưng kết quả kiểm tra lại khác...

Suốt mấy ngày qua, ông Võ Được (58 tuổi, trú K195/4 Thái Thị Bôi) - người cao tuổi nhất trong đại gia đình họ Võ sống quanh khu vực tổ 53-54, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng luôn mang bên mình danh sách người thân vừa có kết quả nhiễm nồng độ dioxin cao. Bởi lẽ, cả gia đình và hàng xóm của ông không ngớt quan tâm, thắc mắc về vấn đề này.

Ông Được cho biết, năm 2006, 18 người trong gia đình bốc thăm ngẫu nhiên để lấy máu cho Dự án khảo sát và giải quyết ô nhiễm dioxin tại Đà Nẵng (DDAMP), Quỹ Ford tài trợ, do các thành viên Công ty Tư vấn Hatfield, Văn phòng 33 của Chính phủ và Bộ Y tế thực hiện.

Chuyện tưởng đã lãng quên, không ngờ vài tuần trước, cả họ (Võ Được, Võ Thấu, Võ Tư...) choáng váng khi hay tin 18 người đều bị nhiễm dioxin. Và bản thân ông Được cũng không nằm ngoài danh sách đó. Nói đến đây, người đàn ông luôn tỏ ra mực thước, điềm đạm, trình bày rành rọt vấn đề chợt nghẹn lời.

Dioxin từ đâu “vào” cơ thể, bị nhiễm chất độc này từ bao giờ, điều gì sẽ xảy ra tiếp sau đây...? Đó là những câu hỏi cứ bật lên không dứt trong tâm trí các thành viên gia đình ông. Theo ông Được, 18 người được xét nghiệm, còn các thành viên khác do sinh sống nơi khác hoặc làm ăn xa nên chưa có cơ hội khảo sát. Cầm tờ “gia phả” đặc biệt, ông liệt kê một số người đã mất vì ung thư gan, lâm bệnh khó chữa, vô sinh trong vài năm gần đây.

Hội Nạn nhân chất độc da cam thành phố cho biết cũng vừa nhận danh sách 62 người tham gia khảo sát. “Đau lòng”! Đó là câu cửa miệng của bà Nguyễn Thị Hiền, Chủ tịch Hội khi nói về các trường hợp này. Nhiều gia đình khác cũng có cha mẹ, con cái và anh chị cùng nhiễm dioxin. Bà Hiền nói: “Lâu nay nói tới nạn nhân chất độc da cam thì mình nghĩ ngay đến những người tham gia kháng chiến, người thương tật, trẻ dị dạng… Không ngờ có những con người bề ngoài bình thường nhưng họ đã là “nạn nhân” từ bao giờ mà không hay biết”.

Hy vọng vào phương pháp Hubbard

Khả quan với tẩy độc bằng phương pháp Hubbard

Đó là nhận định của Tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Bá Vượng, người phụ trách quá trình điều trị tẩy độc cho các nạn nhân Đà Nẵng tại Bệnh viện 103 - Học viện Quân y trong thời gian tới. Bác sĩ Vượng cho biết, việc tẩy dioxin trên người bằng phương pháp Hubbard khả quan do những kết quả thu nhận từ Trung tâm khử độc Thái Bình, nơi đã thực hiện cho nhiều bệnh nhân là cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong.

Cư dân sinh sống gần khu vực sân bay Đà Nẵng là đối tượng chính của nghiên cứu, được chọn một cách ngẫu nhiên và tự nguyện tham gia vào chương trình. Đối tượng tham gia tối thiểu 18 tuổi, phải sống tại khu vực nghiên cứu ít nhất 5 năm liên tiếp (loại trừ thời gian vắng mặt hoặc đi phép dưới 6 tháng) và được yêu cầu cho 80ml máu để phân tích dioxin, furan, PCBs, lipid huyết thanh.

Việc tẩy độc dioxin bằng phương pháp Hubbard được nhà khoa học L.Ron Hubbard nghiên cứu và ứng dụng ở Mỹ và Nga sau thảm họa Chernobyl năm 1986. Phương pháp này được áp dụng điều trị cho binh lính Mỹ tham gia chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, lính cứu hỏa và các nạn nhân trong vụ sập Trung tâm thương mại thế giới ở New York.

Ông Được cho hay, các nạn nhân đợt này sẽ ra Hà Nội chữa khoảng một tháng và miễn phí hoàn toàn tiền đi lại, ăn ở, điều trị. Nếu thành công thì từ đây sẽ mở ra hy vọng cho nhiều người bất hạnh khác. Ông mong rằng các chương trình tẩy độc nên chú trọng vào đối tượng nạn nhân là người trẻ tuổi, bởi tương lai của họ còn rất dài.

Một điều nữa khiến ông và nhiều người khác quan tâm là nếu họ bị nhiễm dioxin từ nguồn nước hay các yếu tố khác liên quan tới môi trường thì sau khi chữa bệnh trở về liệu người dân nên có tiếp tục nếp sinh hoạt cũ hay không. Trước khi đợi các nhà môi trường vào cuộc, ông và người dân sống quanh đó chỉ biết ứng phó bằng cách tuyệt đối không dùng nước giếng khơi hay ăn các loại thủy sinh trên khu vực bị nghi nhiễm dioxin.

Theo Tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Bá Vượng, ở Việt Nam hiện nay chưa đưa ra kết luận chính thức về mức nhiễm dioxin có trong cơ thể như thế nào thì gọi là cao, và mức nào là bình thường, tùy thuộc những nước khác nhau mà họ đưa ra các tiêu chuẩn khác nhau. Về cơ bản thì phương pháp Hubbard giúp loại bỏ được rất nhiều độc chất. Với số lượng không nhỏ nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn thành phố, Đà Nẵng được khuyến khích nên xây trung tâm khử độc tố. Tuy nhiên, đây là công trình đòi hỏi nhiều công sức, quyết tâm, tài chính và đội ngũ chuyên gia khử độc.

Chương trình lấy mẫu máu/sữa để khảo sát và giải quyết dioxin tại Đà Nẵng năm 2006, thuộc Dự án khảo sát và giải quyết ô nhiễm (DDAMP)

Mô tả nghiên cứu: Nghiên cứu gần đây phát hiện hàm lượng cao hóa chất (dioxin và furan) trong đất, bùn tại sân bay Đà Nẵng. Có hàng trăm loại dioxin và furan khác nhau. Một chất đặc biệt trong số các chất này (TCDD) được Chính phủ và nhiều tổ chức quốc tế xác định là yếu tố gây ung thư. Dự án nhằm khảo sát mức độ phơi nhiễm dioxin và furan trong môi trường và con người khu vực lân cận sân bay Đà Nẵng, đồng thời lên phương án bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng như làm sạch khu vực phơi nhiễm.

Phương pháp Hubbard

Đây là phương pháp hoàn toàn dựa trên cơ chế tuần hoàn, trao đổi chất của cơ thể con người. Có thể hiểu một cách đơn giản là hóa chất độc hại khi nhiễm vào cơ thể chủ yếu được tích lũy ở các mô mỡ, nằm ngoài khả năng chữa trị của các loại thuốc thông thường. Mỗi ngày, những người bị phơi nhiễm dioxin dậy từ 5 giờ 30 để chuẩn bị cho quá trình tẩy độc.

Sau khi được bác sĩ khám sức khỏe, đo huyếp áp, tim mạch, họ sẽ uống các loại vitamin chiết xuất từ thảo dược với hàm lượng cao rồi vận động mạnh trong 30 phút để mồ hôi toát ra càng nhiều càng tốt, sau đó xông hơi. Khi mồ hôi được toát ra, các chất cặn độc trong cơ thể cũng theo đó ra ngoài.

Trong khi xông hơi, họ được bổ sung nước pha khoáng chất, muối biển nhằm bù lại lượng nước đã mất. Kết thúc một ngày xông hơi, các nạn nhân được bổ sung dầu thảo dược tăng cường sức khỏe.

Thời gian tẩy độc có thể khác nhau, tùy thuộc vào lượng độc tố và sự biến chuyển bệnh tình của mỗi người. Thông thường mỗi người tham gia từ 20-25 ngày. Chỉ khi nào tình trạng bệnh của người tham gia có chuyển biến tốt, cơ thể khỏe mạnh, tinh thần vui vẻ thì mới kết thúc đợt khử độc.
(Nguồn: Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam)

Theo Thu Hoa
Báo Đà Nẵng


MỸ NGỪNG XÂY CẤT VÀ HOẠT ĐỘNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN TRÊN TOÀN QUỐC


Uỷ ban Pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ (NRC) ngưng tất cả giấy phép xây cất và hoạt động lò phản ứng hạt nhân trên toàn nước Mỹ

Nhóm biên dịch Nguyễn Thế Hùng
Ngày 24 tháng 8 năm 2012
Lời dẫn của nhóm biên dịch:
Bảo quản và tồn trữ những thanh nhiên liệu hạt nhân sau khi sử dụng là trách nhiệm của nhà máy điện nguyên tử. Một nhà máy điện hạt nhân thải ra khoản 30 tần uranium một năm dưới dạng các thanh nhiên liệu hạt nhân phế thải. Ngay tại Hoa Kỳ, một nước to lớn với nhiều vùng đất sa mạc hoang vu, cho đến hôm nay sau hơn 20 năm tìm kiếm nhưng họ không tìm được một địa điểm nào thích hợp để tồn trữ lâu dài (vài ngàn năm hay lâu hơn) nhiên liệu hạt nhân phế thải từ các nhà mát điện nguyên tử của họ, và kết quả là Toà Kháng Án Hoa Kỳ ngày 14/08/2012 đã ra lệnh Uỷ Ban Pháp Quy Quốc Gia ngưng cấp giấy phép xây cất và tái cấp giấy phép tiếp tục vận hành nhà máy điện hạt nhân trên khắp nước Mỹ vì tình trạng nguy hiểm và không an toàn do việc tồn trữ các thanh nhiên liệu uranium phế thải ngay tại khu vực các lò phản ứng hạt nhân. Thảm họa Fukushima chứng minh cho tình trạng nguy hiểm và rất không an toàn này. Nếu có nhà máy ĐHN tại Việt Nam, nan đề thanh nhiên liệu hạt nhân phế thải tích lũy hằng năm sẽ được giãi quyết cách nào đây? Thanh nhiên liệu hạt nhân phế thải là những quả bom nguyên tử chờ nổ mà người dân Việt Nam phải gánh chịu muôn đời!
Điện hạt nhân: lợi chỉ một mà hại trăm ngàn lần!
Đề nghị những vị chuyên gia và nhân sĩ trong nước, vì sinh mạng của hàng trăm ngàn người dân, vì an toàn và tồn vong của cả nước trước nạn ô nhiễm phóng xạ và thảm họa nguyên tử, hãy nhanh chóng thay mặt toàn dân có hành động tích cực can thiệp với Quốc Hội, lãnh đạo Đảng Cộng Sản yêu cầu ngưng hẳn dự án điện hạt nhân trên toàn cõi đất nước Việt Nam. Cả nước đang mong mỏi vào tấm lòng của quí vị.

Uỷ ban pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ (NRC) ngưng tất cả giấy phép xây cất và hoạt động lò phản ứng hạt nhân trên toàn nước Mỹ

Washington D C (SPX) ngày 14 tháng 8 năm 2012

Ủy Ban Pháp Quy Hạt Nhân Hoa Kỳ (NRC) đã quyết định đình cấp giấy phép cuối cùng của ít nhất 19 giấy phép xây cất và vận hành lò phản ứng hạt nhân – 9 giấy phép xây cất và vận hành, 8 giấy phép tiếp tục hoạt động, 1 giấp phép hoạt động, 1 giấp phép cấp trước - nhằm đáp lại một phán quyết có tính cách tiên phong về giãi quyết chất phế thải hạt nhân của Tòa Kháng Án của khu vực D.C. (District of Columbia).

Hành động của Ủy Ban Pháp Quy Hạt Nhân (NRC) mà đã được yêu cầu trong kiến nghị ngày 18 tháng 6 năm 2012 bởi 24 nhóm, đòi hỏi NRC trả lời quyết định của toà án bằng cách là phải ra lệnh đình lại quyết định cấp giấy phép cuối cùng cho đến khi nào cơ quan này hoàn tất công tác soạn thảo các điều lệ về những ảnh hưởng đến môi trường của các chất phế thải hạt nhân chứa lưọng phóng xạ cao dưới dạng thanh nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, việc bảo quản và loại bỏ các thanh nhiên liệu dùng cho lò phản ứng đã qua sử dụng.

Trong khi hoan nghênh hành động của NRC, các tổ chức này cũng lưu ý rằng hầu hết những dự án điện hạt nhân Hoa Kỳ đã từng bị lệch hướng bởi những khó khăn vô cùng to lớn mà kỹ nghệ hạt nhân đang đối mặt, gồm việc không đủ khả năng kiểm soát giá cả gia tăng vượt ngoài tầm tay, và sự sẵn có của các loại năng lượng khác, phi hạt nhân, rẻ hơn năng lượng hạt nhân rất nhiều.

Diane Curran, một trạng Sư đại diện cho một vài tổ chức có tên trong vụ kiện tại Tòa Kháng Án, nói: "Ủy Ban cần phải ngưng tất cả những quyết định cấp giấy phép sau cùng – nhưng không phải là các tiến đô cấp giấy phép – cho đền khi NRC hoàn tất nghiên cứu toàn bộ và sâu xác về những ảnh hưởng đến mội trường của việc tồn trử và loại bỏ những thanh nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. Công tác nghiên cứu này đáng lẻ cần phải được thực hiện từ những năm trước, nhưng NRC cứ chơi trò đá lon trên đường. Khi Toà Kháng Án ra lệnh NRC ngưng cấp giấy phép và phải xem xét những tác động gây ra từ những thanh nhiên liệu đã sử dụng mà không tìm ra được phương cách nào để loại bỏ chúng, Ủy Ban có thể chọn cách kháng cáo quyết định này của tòa án, hạn chót kháng cáo là ngày 22 tháng 8, hay là chọn thực hiện công việc phân tích nghiêm chỉnh những tác động của nhiên liệu phế thải đến môi trường trong thời gian vài năm tới. Với quyết định của Ủy Ban Kiển Soát Hạt Nhân vào ngày hôm nay, chúng tôi hy vọng Ủy Ban Pháp Quy Quốc Gia sẽ tiến hành nghiêm chỉnh công tác này”

Lou Zeleler, Chủ tịch của Liên Đoàn Bảo Vệ Môi Trường Blue Ridge, một tổ chức khác cùng viết kiến nghị nộp cho tòa án nói: “Có vẽ như các viên chức của Ủy Ban, ít nhất là đi bước đầu, đã nắm bắt được mức độ quan trọng của phán quyết của Tòa, và chúng tôi rất lạc quan là Ủy Ban sẽ thiết lập một tiến trình cơ bản và minh bạch, công bình theo đạo luật về Chánh Sách Môi Trường Quốc Gia để kiểm soát những tác hại nguy hiểm đến môi trường của việc bảo quản và loại bỏ những thanh nhiên liệu hạt nhân đã được sử dụng trước khi quyết định cấp giấy phép hay tái cấp giấy phép vận hành các lò phản ứng hạt nhân.”

Cựu Chủ tịch Ùy Ban ông Peter Bradford đã tuyên bố: “một điều quan trọng cần được nhận biết là những lò phản ứng hạt nhân đang chờ cấp giấy phép xây dựng sẽ không được xây dưng trong một thời gian ngắn sắp tới, ngay cả không có quyết định của Tòa hay là hành động của Ủy Ban NRC vào ngày hôm nay. Sự giảm sút về yêu cầu của điện hạt nhân , những nguồn năng lượng rẻ khác và giá cả nhảy vọt của nhà máy điện hạt nhân đã triệt hạ tiềm năng trước mắt của ngành điện hạt nhân ngay trước khi có quyết định của Tòa án. Điều quan trọng nữa là phán quyết của Tòa đang điều chỉnh quan điểm cố hữu của NRC là thúc-đẩy-thực-hiện-điện-hạt-nhân-nhưng-đình-hoản-giãi-quyết-các-khó-khăn liên quan đến an toàn và môi trường, không thể đổ lỗi cho Ủy Ban về việc đưa đến tình trạng bê bối hiện nay mà một thời được xem như là “sự phục hưng năng lượng hạt nhân.”

Ngày 18 tháng Sáu, đã có 24 tổ chức dân sự đứng ra nộp kiến nghị khiếu kiện Ủy Ban Pháp Quy Quốc Gia Hoa Kỳ. Các tổ chức dân sự này sẽ đề ra một chương trình hành động tiếp theo, vào tháng Chín 2012.

Ngày 8 tháng Sáu, Toà án đã bác bỏ quyết định của NRC cho phép cấp giấy phép và tái cấp giấy phép vận hành các lò phản ứng hạt nhân dựa trên giả thiết rằng (a) Ủy Ban Pháp Quy Quốc Gia (NRC) sẽ tìm được một phương cách thích hợp để loại bỏ các thanh nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng từ các lò phản ứng nguyên tử trong thời gian sau này khi mà vấn đề này trở thành “cần thiết” và (b) trong khi chờ đợi, những thanh nhiên liệu đã qua sử dụng có thể được bảo quản ngay taị khu vực của các lò phản ứng hạt nhân (trong các hồ giãi nhiệt).

Tòa đã lưu ý rằng, sau nhiều thập niên bị thất bại trong việc tìm nơi bảo quản thích hợp các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng, bao gồm hai mươi năm làm việc tại vị trí thuộc vùng núi Yucca Mountain nay cũng bị ngừng hẳn, NRC “hiên nay không có kế hoạch dài hạn nào ngoại trừ hy vọng có được một khu vực với vị trí địa dư thích hợp.“ Do đó có thể nói rằng các thanh nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng sẽ phải được tồn trử “vĩnh viễn” ngay tại khu vực của nhà máy điện hạt nhân. Trong trường hợp này, Ùy Ban Pháp Quy Quốc Gia (NRC) cần phải xác định những hậu quả nào sẽ xảy ra cho môi trường do sự thất bại của công tác thiết lập vùng tồn trử thanh nhiên liệu phế thải khi cần đến.

Tòa cũng bác bỏ quyết định của NRC về vấn đề giảm thiểu những nguy cơ rò rỉ hay hỏa hoạn xày ra tại các hồ chứa những thanh nhiên liệu đã qua sử dụng, vì NRC đã không chứng minh được rằng những tai nạn này trong tương lai sẽ không đáng kể. Tòa nhận thấy rằng kinh nghiệm quá khứ với những rò rỉ từ hồ chứa thanh nhiên liệu không đủ để dùng cho việc tiên đoán những gì có thể xảy ra trong tương lai. Tòa cũng đưa ra kết luận rằng NRC đã không chứng minh được những trận hỏa hoạn kinh khủng tại các hồ chứa nhiên liệu là rất thấp để có thể bỏ qua nguy cơ này.

Mô hình nhà máy điện hạt nhân tại xã Phước Dinh, Ninh Phước, Ninh Thuận.

Nếu vẫn bị nhóm lợi ích hạt nhân trong nước ép xây cất thì nơi này sẽ phải chứa mỗi năm 30 tấn uranium thanh nhiên liệu hạt nhân phế thải vì Việt Nam không có nơi nào đáp ứng đủ điều kiện để tồn trữ! (sẽ là những bom nguyên tử chờ giờ nổ!)


Thứ Năm, 23 tháng 8, 2012

BÙI THẾ TRƯỜNG – Câu hỏi đầy cắc cớ: Khoai lang có tinh bột, tinh bột tạo ra đường, người bịnh tiểu đường không nên ăn? Nếu ăn, hư thật ra sao? Những


Câu hỏi nêu trên làm bối rối nhiều người. Thật ra khoai lang chính nó có chứa đựng những sinh hóa quan trọng giúp ích sức khoẻ cho con người vô cùng, được các khoa học tìm hiểu và khám phá. Vì chúng ta không biết những lơi ích của nó, vã lại, nó là thức ăn cho giới người nghèo khi không có đủ gạo để ăn như thời người dân sống dưới chế độ VC, nên đồng bào không quan tâm cho lắm và chạy tìm những thứ mắc tiền khác để được gọi cho là” ăn sang” của kẻ có của lắm tiền. Bài nầy nêu lên những điều lợi ích của nó đã được thực nghiệm bởi khoa học để cho bà con mình biết, nếu bà con thấy cần thì áp dụng để cải thiện sức khỏe. Vã lại, về phương diện khoa học, khoai lang ngọt là một thực phẫm đươc cơ quan NASA. US (the US National Aeronautics and Space Administration) xem như là nguồn của thức ăn căn bản cho cuộc sống nhân loại lại được thí nghiệm trồng thử trong một sinh thái hoàn toàn mới đươc kiễm soát trong không gian và đươc khoa học theo dõi kỹ.(University of Arkansas at Pine Bluff 2005. (www.uaex.edu/Other_Areas/publications/PDF/FSA-6135.pdf)

Thêm nữa, nhiều cuộc khảo cứu cho biết thêm là khoai lang ngọt có chứa nhiều thành phần quan trọng cho sức khỏe con người như là polyphenol, anthocyanins và diet fibre.

Mục đích và đối tượng biên khảo.

Mục đích và đối tượng biên khảo bài nầy là tìm hiểu khoai lang loại nào có nhiều dược hoá tính tốt (high pharmacology) để giúp và cải thiện sức khoẻ và ngăn ngừa bịnh tật cho con người. Sau khi đọc vô số bài biên khảo khắp nơi, đối tượng được chọn nghiên cứu trong biên khảo nầy là khoai lang tím và khoai lang đỏ (purple potato và red potato: viết tắt PPE và RPE)

Dẫn nhập.

Khoai lang ngọt Botanical name : Ipomea batatas (or Ipomœa batata)Family: Convolvulaceae (morning glory) Other common names: Satsuma-imo, Sweet Potato có từ lâu, thời tiến sử, trên 10,000 năm trước, được khám phá tìm thấy tại các hang động của nưóc Peru (Peruvian caves). Tại Trung Mỹ, Central America, loại khoai lang nầy phát triển khá qui mô từ xa xưa cho tới nay, có trên 400 loại khác nhau , từ trắng, vàng , cam, đỏ, và tím. Vv

Sweet potato được coi như là một thực phẩm lớn vào hàng thứ 6 trên thê giới (sixth largest food crops) được trồng nhiều nhất tại các nước Á châu và Phi châu Tại Nhật, sweet potato dùng trị bịnh tiểu đường (diabetes) và những bịnh tật khác còn người American Indians dùng sweet potato để trị bịnh khát (thirst) và tiểu đường (Kusano et al, 2001, Yoshimoto et al 2003; Konczak –Islam et al., 2003; Ludvik B et al., 2003)

Đối với chức năng của khoai lang ngọt về antioxidant thì ta thấy chúng có chất alpha –tocopherol, là chất có nhiều nhất dễ hợp thành vitamin E, có hàm lượng từ 25mg/100 g của củ khoai lang ngọt. Ngoài ra trong sweet potato còn có 2 loại proteins là sporamins A và B, có trên hơn 80% của hàm lượng protein được chiết xuất từ sweet potato (Maeshima M et al., 1985; Runnie I et al., 2004).

Về phương diện dinh dưỡng trong 100g khoai lang ngọt có:

Raw Sweet Potato

Nutritional value per 100 g (3.5 oz)

Energy

360 kJ (86 kcal)

Carbohydrates

20.1 g

- Starch

12.7 g

- Sugars

4.2 g

- Dietary fibre

3.0 g

Fat

0.1 g

Protein

1.6 g

Vitamin A equiv.

709 μg (89%)

- beta-carotene

8509 μg (79%)

- lutein and zeaxanthin

0 μg

Thiamine (vit. B1)

0.1 mg (9%)

Riboflavin (vit. B2)

0.1 mg (8%)

Niacin (vit. B3)

0.61 mg (4%)

Pantothenic acid (B5)

0.8 mg (16%)

Vitamin B6

0.2 mg (15%)

Folate (vit. B9)

11 μg (3%)

Vitamin C

2.4 mg (3%)

Vitamin E

0.26 mg (2%)

Calcium

30.0 mg (3%)

Iron

0.6 mg (5%)

Magnesium

25.0 mg (7%)

Phosphorus

47.0 mg (7%)

Potassium

337 mg (7%)

Sodium

55 mg (4%)

Zinc

0.3 mg (3%)

Percentages are relative to
US recommendations
for adults.
Source: nutritiondata.comSource: USDA Nutrient Database

Read More http://nutritiondata.self.com/facts/vegetables-and-vegetable-products/2667/2#ixzz225Jaip00

Dân gian tiêu thụ khoai lang ngọt thấy rằng ít có xảy ra như: táo bón (constipation), các bịnh liên quan ruột non và ruột già hay kết tràng (diverticulosis and colon) do ung thư gây nên. Ăn khoai lang ngọt cũng thấy ít xảy ra nhất là bịnh về tim mạch (heart disease), tiểu đường (diabetes) và mập phì (obesity). Ăn khoai lang ngọt lại cũng ít thấy xảy ra như: đột qụy (stroke), tránh được máu đông cục (blood clots). giảm chất mỡ xấu LDL (low density cholesterol). Với sự hiện diện của betacarotene có trong khoai lang ngọt, nó giúp chống lại radical và các ung thư liên hệ. Còn Potassium hiện diện trong nó giúp máu lưu thông, điện phân cân bằng (electrilyte balance) và giúp các tế bào được nguyên vẹn. Ăn khoai lang ngọt còn cho thấy là máu đươc lọc sạch và có được huyết áp thấp, xương cốt được cải thiện nhờ iron (chất sắt)và calci (chất vôi), tránh được ung thư bao tử, tránh viêm kết tràng, và gia tăng tốt các chức năng hoạt động nặng bằng bắp thịt. Ăn khoai lang ngot thì sau rốt là tránh được bịnh tiểu đường mà không còn lo ngại sợ sệt (without any apprehension). Như vây chần chừ gì mà không ăn cho rồi? Nhưng….

Tại sao tôi chọn sweet potato ?

Bởi vì chính vỏ và thịt của củ khoai chứa nhiều màu sắc thay đổi và quyến rũ của một sự tập hợp màu sắc tuyệt với từ: đỏ, tím, xanh da trời, tất cả màu sắc đó là do sự tích lũy của anthocyanins của nhiều phần của sắc tố (pigments) như carotenoids và anthocyanins (Jansen and Flamme 2000;Brown 2006). Trong khi carotenoids cho ta màu sắc như là trắng, vàng, màu vàng nghệ (saffron yellow colors) của da và của thịt củ khoai, còn anthocyanins thì cho ta màu đỏ, tím, xanh da trời, màu cam ( orange) và biết bao màu sắc khác nhau của nhiều loại khoai tùy vào thổ nhưỡng (pedology) và di truyền (Lachman and Hamouz, 2006; Reyes et al, 2005, Jamsem amd Flamme 2006, Andre et al 2007, Zhand et al, 2009).

Cho đến ngày nay, mọi sự nghiên cứu về khoai lang ngọt mà mọi người mới hiểu về tính chất dược hóa liệu hữu ích cùng dinh dưỡng của nó trong việc bảo vệ, ngăn ngừa bịnh, ức chế và trị nhiều loại ung thư trong con người.

Thực phẫm là thuốc được dùng để ăn hằng ngày có mục đích phòng bịnh. Phòng bịnh thì tốt hơn trị bịnh. Tất cả các dược tính tốt có được, cũng từ màu sắc là do anthocyanins mà ra.

Giá trị sinh hóa của sweet potato trong pharmacology.

Trong sự nghiên cứu về dược tính của sweet potato, các khoa học gia kết luận: làm thư giãn, lọc sạch free radical trong máu, tăng cường hệ miễn nhiễm, chống bịnh tiểu đường (antidiabetic), bảo vệ gan, chống bịnh tăng huyết áp (antihypertensive), chống viêm (anti-ìnflammatory) chống vi trùng, vi-khuẩn (antimicrobial) và là chất chống sự oxít hóa (antioxidant).

Làm thư giãn

Ngoài ra, đối với hệ tim mạch, do các nhà khoa học khảo nghỉệm kết luận rằng sweet potato có tác dụng tới 97% trong sự hoạt động thư giãn Cơ chế của sự thư giãn nầy giống như trong pharmacology đó là chất acetylcholine (ACh) là chất có tác dụng truyền xung thần kinh tới các màng để kích thích trong việc thư giãn ( ACh acts as a neurotransmitter in both the peripheral nervous system (PNS) and central nervous system (CNS) in many organisms including humans. Jones, BE (2005); Himmelheber, AM (2000); Runnie I. et al., (2004). Chất Acetylcholine (Ach) đươc tổng hợp từ 2 chất coline và acetyl-CoA do một enzyme gọi là enzyme choline acetyltransferase mà thành, có công thức hoá học là CH3COOCH2CH2N+(CH3)3. Còn

Potassium trong sweet purple potato chính là chất làm điều hòa và cân bằng nước trong cơ thể và đẩy nhiều oxygen vào óc (brain)

(hình 1- Trong Trung tâm thần kinh (CNS) có tiết ra một chất gọi là acetylcholine (Ach), chất đươc nhuộm màu xanh đậm) (source: Jones, BE (2005); Himmelheber, AM (2000)

Làm lọc sạch free radical trong máu.

Còn tính chất antioxidant do các khoa học gia nghiên cứu và kết luận do từ những thành phần chánh của chất phenolic của sweet potato được ngâm trong methanol và chiết xuất ta được một chất có hoạt tính mạnh về antioxidant trong môt hệ thống dung dịch linoleic acid aqueous (Haysase F 1984). Ngoài ra chất anthocyanins của chất khoai lang tím (purple sweet potato: PSP) lại có sự hoạt động của chất chống lại oxit hóa (antioxidant). Chất 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH ) thì nó có tính hoạt động lọc sạch các radical (radical scavenging activity) do bởi chất anthocyanin của purple potato, khi xét nghiệm từ các mẫu của nước tiểu gia tăng bằng cách dùng PSP (purple sweet potato) chiết xuất chất anthocyanin tiêm vào các con chuột thí nghiệm và cả 6 người tình nguyện viên uống chất đó. Kết qủa là sự lọc sạch các radical do chất anthocyanin thì cao hơn so với ascorbic acid rất nhiều (Kano M 2005).

Thật vậy hoạt tinh antioxidant do màu sắc của potato do anthocyanins có thể thấy qua màu đỏ và tím của potato. Khà năng hấp thụ về free radical của oxygen (oxygen radical absorbance capacity (ORAC) và của sắt nhị (ferrous) của 2 loại khoai tím và đỏ đã làm giãm đi rõ trong việc xét nghiệm huyết tương được thu thập tới 2, 3 lần cao hơn trong khoai lang trắng, hay vàng (Lachman and Hamouz 2005; Brown 2004).Thịt của khoai lang tím và đỏ, được biết là có hoạt tính cực mạnh về antioxidants. Vì thế, potato anthocyanin được coi như là một chất bảo vệ con người chống lại những vết thương do oxidants và free radicals tác động gây nên, nên nó được coi tốt nhất trong việc bảo vệ sức khỏe về tim mạch, làm chậm và ức chế mọi phát triển của ung thư.

Một khía cạnh nổi bật của anthocyanins về phương diện sinh hóa (biochemistry) thì anthocyanin làm gia tăng hoạt tính của diếu tố chống oxit hoá (antioxidant enzyme activities) như: chất superoxide dismutase (SOD) và chất glutathione peroxidase (GSH-Px). Nhóm nghiên cứu Han et al., 2006a cho biết chất petanin của purple potato có nhiêm vụ đóng góp việc antioxidant của hoạt động làm sạch oxygen của free radical và ức chế sự oxit của linoleic acid (linoleic acid oxidation. Như ta biết chính chất Glutathione (GSH) là môt chất antioxidant, có nhiệm vụ quan trọng trong việc ngăn ngừa để các tế bào khỏi bị hư hại do tác đụng của một vài loại oxygen chẳng hạn như free radical và peroxides (Visvikis A et al., 2003). Nó đóng vai quan trong trong sự sống còn trong việc giữ cái quân bình giữa oxidation và antioxidation., trong việc tổng hợp và sửa chữa DNA, trong việc tổng hợp protein và sự hoạt động điều hòa của các enzymes. Các tế bào đều có glutathione, và chất nầy bảo vệ chống lại những free radicals, nên các cells trong cơ thể được tồn tại. Nó cũng là thành phần quan trọng tuyệt đối trong vai trò lymphocytes và sản xuất những kháng thể, là những thành phần sống cón cho hệ thống miễn nhiễm. Vì thế, về thực phẫm đươc coi là hữu ích cho con người nếu được có nó để làm tăng thêm hiệu qủa y-hoá học cao nhất. Cũng nhóm nghiên cứu trên đã khám phá thêm nếu cắt thành phần nhỏ của purple potato cho chuột ăn để thí nghiệm thì thấy kết qủa y như những như trên đã nói là các thành phần như chất glutathione của gan chuot va chất glutathione–S- transferase cùng trạng thái oxit của huyết thanh (serum) và cả gan của chuột được cai thiện khi được nuôi bằng củ khoai lang tím.

Còn nếu cho chuột ăn khoai lang đỏ (red potato) thì thấy hàm lượng huyết thanh của chất acid thiobarbituric substance (TBARS) giãm hẳn đi, và gia tăng thêm hàm lượng chất SOD mRNA trong gan của chuột, như vậy chứng tỏ là chính red potato cải thiện hệ thống chống oxit hóa nội sinh của cơ thể (endogenous antioxidant system) bắng cách gia tăng chất SODmRNA của gan (hepatic SOD mRNA).

Nhóm khoa học nghiên cứu của China tại Shanxi Normal University do Zhu et al, (2010), thực hiện và cho biết rằng chính 2 chất acylated cyanidin và peonidin trong anthocyanin của Purple Potato có hiệu qủa về việc làm sạch free radical và superoxide anions radical-scavenging của chất alpha-alpha-diphenyl-beta-picrylhydrazyl nghĩa là làm giãm đi khả năng và ảnh hưởng của antioxidant lên chất lipid peroxidation trong nodel system của chất linoleic acid. Với hàm lượng của anthocyanin là 0.5g/L, thì nó làm giãm khả năng của L-ascorbic-acid (L– AA) và chất butylated hydroxytoluene (BHT) đo được 0.572, 0.460 và 0.121 thứ tự lần lượt (in turn respectively). Thêm một dữ kiện khác là nếu dùng hàm lượng của phân nửa nồng độ (concentration) (IC50) của anthocyanins để làm sạch radical của DPPH (DPPH radical) và radical của superroxide anions, thì kết qủa đo được của sự làm sạch đo là 6.94 và 3.68 mg/L thứ tự lần lượt. Như thế, kết luận thêm là anthocyanins làm sạch free radical rất hiệu qủa của 2 chất kể trên. Thêm nữa, có thể nói, anthocyanins còn có khả năng ức chế của cả chất peroxidation lipid rất hiệu qủa.

Xin mời qúy vị xem trong bài biên khảo của tôi về Trà xanh (green tea là gì) để biết thêm thế nào là free radical, tại hại của free radical như thế nào, chúng từ đâu tới, ảnh hưởng đến sưc khỏe ra sao, và vai trò của polyphenol của trà xanh chống lại radical hữu hiệu như thế nào? Và bây giờ có thêm vai trò của anthocyanin trong việc lọc sạch radical luân lưu trong cơ thể. Và chính anthocyanin trong purple sweet potato đóng vai trò lọc sạch các free radical trong máu.Có thể kết luận là chính nutraceuticals góp phần rất hữu ích và quan trọng trong sự sống chống bịnh tật của loài người.

Hệ thống miễn nhiễm (immune system effects)

Chính các sợi trong sweet potato hợp với những thuốc khác được dùng để trị những vết thương trên da. Trong cuộc thí nghiệm việc dùng sweet potato fibre trị những vết phỏng cho loại chuột thí nghiệm lành trong 19 ngày. Kêt qủa được ghi lại như sau: vết thương thu nhỏ tới 21% trong ngày thứ 9, 19.5% trong ngày thứ 11; 18.75 % trong ngày thứ 13. Giải thích sự kiện trên là vì purified sweet potato polysaccharide (PSPP) tạo ra một sinh học thay đổi giảm nhẹ vết thương thích ứng. Ví dụ căn cứ vào sức nặng của trọng lượng, người ta dùng PSPP (50, 150, 250mg/kg body weight trong 7 ngày) thì ngay tại vết thương đó thấy các dược tính hoạt động tăng lên, Hemolytic hoạt động tăng lên và huyết tương IgG tập trung lại giúp cho vết thương mau lành. (Zhao G., 2005)

Tiểu đường (diabetes)

Tại Mỹ, bịnh tiểu đường lại gia tăng tại Mỹ, ước chừng có trên 18 triêu người mắc bịnh, và mỗi năm người bị bịnh nầy chất trên 213,000 người và bịnh đó gây nên cái nguyên do đầu là sự suy thoái tim mạch, mù mắt và thận hư. Thực phẫm có tác dụng chống bịnh tiểu đường lại đươc ưa thích trong mọi chế độ ăn uống và nhất là có rất nhiều nhà nghiên cứu khoa hoc bảo rằng khoai lang ngọt là môt hợp chất chống bịnh tiểu đường và làm hạ đường trong máu xuống rất kết qủa.

Có tới hàng trăm các nhà khoa học kể cả các luận án Tiến sĩ của các đại học nổi tiếng trên khắp thế giới nghiên cứu rất cẩn trọng về sweet potato, đưa đến những điểm cần quan tâm như sau: Chính củ khoai lang ngọt và vỏ của nó chứa những thành phần đầy dược tính y học giúp ích cho con người. Nó chứa hàm lượng cao về polyphenols như anthocyanins và phenolic acids, chẳng hạn như caffeic acid, đã được trích ra từ sweet potato. Thêm nữa, Chlorogenic, dicaffeoylquinic and tricaffeoylquinic acids đều là do biến thể từ caffeoylquinic acid, là chất bảo vệ cho của khoai lang ngọt chống lại các loại nấm làm suy thoái củ khoai và đồng thời có một tác dụng sinh hóa bảo vệ và chống ung thư cao. Đặc biệt, còn có một số các chất như acylated anthocyanins là thành phần màu sắc chính tham dự vào bảo vệ củ khoai khi tồn kho và cũng chính nó đóng một vai trò góp phần trong việc trị diabetes. Về câu trúc quan trọng của anthocyanins có 2 tính chất năng động: -1/ phenols esters của chất đường hiện diện của 2 nhóm hydroxyl của aromatic ring vá 2/ sự hiện diện của chuỗi unsaturated trong alkyl trong một nửa của acylated moiety.(Goda et al., 1997; Matsui T et al., 2004; Wilson BJ et al., 1979).

Trong cái gọi là Free–glucosidase, chính AGH của chất anthocyanin là một trong các sắc tố của thực vật có tính cách nhuộm màu được trích ra từ củ khoai để trong kho tồn trữ có PSP (IC50=0.35mg/mL) ức chế mọi hoạt động của chất alpha–amylase. Điều nầy lại chứng tỏ thêm rằng chính nó ngăn chận sự gia tăng đường sau bữa ăn (suppressing the increase in postprandial glucose levels) (Matsui T et al., 2001)

Hai nhóm khoa học: Kusano S et al., 2001; và Kusano S.,et al., 2000) cho biết rằng hoạt động chống diabetes của khoai lang là do WSSP (white-skinned sweet potato)(chống lại Troglitazine trong những con chuột béo phì mắc bịnh tiểu đường trong 8 tuần thí và xét nghiệm. Sau khi cho chuột uống với white-skinned sweet potato (WSSP),thì hyper-insulin lại giảm đi tới 23%, 26%, 60% và 50% trong các tuần lễ thứ 3, 4, 6 v à 8 lần lược. WSSP cũng ức chế hàm lương đường trong máu của chuột sau khi chúng được uống môt hàm lượng glucose vào trong tuần thứ 7. Về mô học (histology) nếu xét về cách cấu trúc của tuyến tụy tạng (pancrease) bằng cách dùng kỹ thuật nhuộm màu đặc biệt và xem dưới kính hiển vi điện tử thấy rằng: Các tiểu đảo của tế bào B (islet B cells) rất nhỏ được tái lập lại trong tụy tạng ( Kusano S et al., 2000; kusano S et al., 2001)

Dữ kiện lâm sàng khác là vỏ khoai (white-skinned sweet potato) WSSP đươc các nhà khoa hoc Nhật (Kusano. Tumasu and Nakatsugawa.,2000 ) nghiên cứu cho ta thấy nó cải thiện đường tolerance là đường được dùng lâu dài bằng cách giảm insuline resistance gọi là insuline ù lì mà không ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể và cả insulin tiết ra, và đường do sự lọc của thận (clearance). Tóm lại, từ đầu cho đến giờ là nếu tiêu thụ nhiều sweet potato thì cải thiện kiểm sóat được sự biến đổi bằng cách giảm insulin resistance, và con người không bị giảm cân, và cũng không có mọi tác hại do từ thức ăn đang dùng gây nên thấy được (Ludvick B et al.2003; Luvik Bhet al., 2002). Như thế có thể nói là gía trị vỏ trắng của khoai lang ngọt có cơ chế chống lại bịnh tiểu đường và đồng thời cải thiện sự tiết ra bất bình thường từ tế bào mỡ tương ứng với việc chống bịnh tiểu đường cùng lúc (Kusano. Tumasu and Nakatsugawa.,2000 ). Hơn thế nữa, tại Nhật, kết quả của một cuộc nghiên cứu trên 145 người Nhật bị bịnh tiểu đường loại 2, được điều trị bằng dược thảo (nutraceutical) do ăn sweet potato thì cho kết qủa là hàm lượng đường trong máu giảm (Ludvik B., et al., 2003)

Những thí nghiệm tương tự trên chuột có những bằng chứng hiển nhiên cho thấy rằng chất acylated anthocyanins như caffeoylsophorose nó đáp ứng đối với chất alpha-glucosidase trong sự ức chế của chất chiết xuất đó. Trong các thí nghiệm về sweet potato cho ta một chất gọi là Adiponectin là một chất cho nghành dươc, Adiponectin là do cytokine sản xuất ra từ các mô mỡ (adipose tissue) và nó được hiện diện trong huyết tương của con người ( human plasma). Khi mà hàm lượng thấp của loại cytokine nầy hay hàm lượng của protein cả liên hợp gia nhập với loại tiểu đường loại 2 (type 2 diabetes mellitus), béo phì và huyết áp cao (Matsui T. Et al., 2004, Berberic T et al., 2005)

Một cuộc thí nghiệm do các nhà nghiên cứu khoa học tại Đại học Vienna Austria, việc dùng sweet potato cho người bịnh tiểu đường như sau: Tại bịnh viện cho 18 người đàn ông mắc binh tiểu đường loại 2, tuổi từ 58 tuổi trở lên được điều trị bằng chế độ dinh dưỡng duy nhất do sự ăn uống. Những bịnh nhân trên được nhân 2 gram hay 4 gram sweet potato để dùng mỗi ngày trước khi ăn trong 3 bữa ăn trong ngày: ăn sáng, ăn trưa và ăn tối, trong thới gian 6 tuần thí nghiệm trị bịnh. Nhóm ăn 2 gram (low dose) sweet potato thì kết qủa xét nghiệm không có gì thay đổi, trái lại nhóm ăn 4 gram ( hàm lương cao) thì xét nghiệm thấy rằng 13% glucose trong huyết tương giảm, và 30% cholesterol cũng giảm kể cả 13% cholesterol LDL xấu cũng giảm theo.

Nhóm khoa học trên kết luận rằng néu dùng 4 grams/ mỗi ngày sweet potato thì giảm đi insulin ù-lì (insulin resistance), vì insulin ù lì giống như kiểu “gà nuốt dây thun” không làm được gì trong sự ức chế đường trong máu xuống thấp và làm giảm đi hàm lượng cholesterols của bịnh nhân tiểu đường loại 2. Như vậy sweet potato có tìm lực trị bịnh tiểu đường loại 2 (Ludvik, Bernhard, H., et al., 2002).

Ba nhóm khoa học nghiên cứu: Cummings JH et al.,(1966), Hylla S e tal.(1998) và Raben A et al., (1994) đã khám phá trên các loại khoai lang ngọt (dark purple và đỏ) đưa đến kết luận làm ngạc nhiên nhiều khoa học gia. Đó là chất gọi là resistance starch, là chất đươc coi như là “fibre” trong thưc vật rau cải, hạt vv trong việc trợ giúp sức khỏe con người mà ai cũng biết. Chính nó tạo ra một khối lớn, có nhiệm vụ bảo vệ chống lại ung thư ruột ( against colon cancer), cải thiện tốt về glucose tolerance và insuline sensitivity, làm cho cholesterol và triglyceride thấp, và gia tăng sự no chán (satiety) và có thể làm gĩam đi chất fat lưu trữ (fat strorage). Hàm lương resistance starch nầy có được là do phương pháp nấu. Nghĩa là nấu rồi để ngụi lạ rồi hãy dùng, có nghĩa là gia tăng hàm lượng resistance starch của chính nó có (Cooking then cooling potatoes significantly, increases resistance starch). Thí dụ như, nếu cooked potato thì starch chứa khoảng 7% chất resistance starch, và để lạnh sau khi cooked thì resistance starch tăng gấp đôi tới 13% (upon cooling). Thí nghiệm trên gợi ý đến Qúy vị thấy rằng quan niệm về GI cần phải bổ khuyết cho đúng với khoa học thưc nghiệm bây giờ. Thấy rắng khoai lang có GI gọi là hơi cao (do tai liệu khảo cứu của các nươc khác), thì cần nên biết thêm rằng GI nầy còn thay đổi tùy theo theo loại như khoai như đỏ, trắng, tím và tùy theo thổ nhưỡng nơi đất trồng, vùng, miền trên qủa địa cầu, và sau cùng là tùy thuộc vào cách nấu hay chế biến, và cũng tùy theo cách ăn ngay hay để một thời gian rồi dùng. Tuy nhiên, với sự khám phá của các nhà khoa học cộng thêm cách nấu để nguội, khoai lang ngọt gíúp người bịnh tiểu đường rất nhiều, thay vì, ngược lại, như nhiều người ngộ nhận, kể cả nhiều vị…. khuyên lơn bịnh nhân. Muốn biết thêm xin tìm đọc bài biên khảo của tôi “cách thức ăn các thức ăn chế biến dành cho người bịnh tiểu đường” để giúp cho chính mình.

Anthocyanins potato bảo vệ gan.

Chính red và purple sweet potato được xác minh trong việc giúp gan hoạt động lại. Nhóm khoa học do Han.., KH et al, (2006b) thí nghiệm và kết kuận rằng chiết xuất purple sweet potato (extract PPE) được coi là bảo vệ gan hữu hiệu ( hepatoprotective effects against) chống lại D-galactosamine (GaLN)-vì chất nầy tạo ra toxic trong gan (hepatotoxicity) và chất nầy lại tạo ra những thay đổi của yếu tố ngoại tử của bướu như alpha (TNF-alpha), lactate degydrogenase (LDH), alanine aminotransferase (ALT) và asparate aminotranferase (ASF). Chất chiết xuất đươc xét nghiệm cho chuột và thấy rằng hàm lượng trong huyết tương của chuột trong đó đã ngăn chận những biến đổi hàm lượng của 3 chất của thiobarbituric acid-reactive substance (TBARS) và glutathione (GSH) trong gan chuột và lipd peroxidation.

Cũng do nhóm Han et al., (2006c) cho rằng nếu dùng nước chiết xuất của khoai lang đỏ (red potato extract) thì nó làm giảm đi GalN, chính chất nầy tạo ra các chất như AST, ALT và LDH hoạt tính trong huyết thanh của chuột. Nếu tinh chế nước chiết xuất đó tư RPE ta thấy chất nầy có tính chất chống oxit (antioxidant) chống lại linolic acid oxidation.

Vi vậy, RPE lại cũng có tính chất bảo vệ tác dụng chống lại GaLN tạo ra chất toxins trong gan của chuột, và ức chế nôi bào glutathione (GSH) cho tới cạn kiệt , nó là một chất co-enzymes trong các phản ứng khử oxy.

Rau lang, cọng và đọt có những dinh dưởng nào?

(Source: flowers, sweet potato leaves from Google)

Woofle (1992) khảo cứu và cho rằng: Rau lang (sweet potato top) cọng và đọt non (leaves and stems)) lại chứa nhiều thành phần dinh dưởng cao hơn hết hơn cả các rau cải trên thị trường. Lá chứa nhiều vitamin B, beta–carotene (3.5mg), iron (1.8mg), calcium ( 117mg), vitamin C (7.2mg), vitamin E (1.6mg), vitamin K/100 g là (0.56mg) zinc, Cu, P, Mg,Na, Al and protein, thêm nữa nó có nhiều moisture hơn cả những lá của các thực vật khác đươc trồng trong vùng nhiệt đới, và nó lại chịu đựng và tồn tại mạnh bất kể mọi bịnh tật hay côn trùng phá hoại chúng.

Ishiguro et al., (2004) cho rằng lá rau lang là nguồn phong phú về chất chống oxit hóa (antioxidantive) polyphenolics trong đó có anthocyanins và phenolic acids như là caffeic, monocaffeoylquinic (chlorogenic), dicaffeolquinic and tricaffeolquinic acids, tất cả lại đươc coi là cao hơn hết trong đám rau cải bán tại chợ. Có điều là rau lang ngọt đươc hái nhiều lần trong năm, thế nhưng, năng xuất những lần gặt hái sau lại cho nhiều hơn hơn cả những rau xanh khác

Câu hỏi được nêu ra là hàm lượng anthocyanins của rau lang đạt tối cao khi nào và lúc nào? Tại sao? Câu hỏi nầy đươc các nhà nghiên cứu thí nghiệm cho ba loại rau lang:Simon-1; Kyushu-119 và Elegant Summer và cho ta kết qủa trong 2 bảng sau đây. Về nhiệt độ giúp cho anthocyanin tối hảo khoảng 20C (bảng1), càng nóng trên >25C thì hàm lượng anthocyanins càng ít ; và rau lang cần hưởng trọn vẹn ánh sang mặt trời (bảng 2), càng bi che ánh sáng nhiều thì hàm lượng anthocyanins càng thấp (Shimizu and Nakamura, 1993; National Agriculture research Center for Kyushu Okinawa Japan., 2005)

(Source:National Agriculture research Center for Kyushu Okinawa Japan., 2005)

Polyphenols compositins của rau lang đươc khoa học tim thấy có tới ít nhất là 15 anthocyanins (xem cấu công thức hình dưới) và 6 polyphenols hợp chất. Về sinh hóa, những hợp chất nầy tác động tạo ra đa dạng phản ứng liên quan đến việc bảo vệ và cải thiện sức khoẻ con người như những chất đươc thấy: antioxidantion (chống oxít hóa), antimutagenicity (chống gây đột biến), anti inflammation (chống viêm) và anticarcinogenosis (chống việc gây ra ung thư). Còn nữa, rau lang chứa tổng số polyphenols nhiều hơn cả các rau khác, kể cả hơn luôn củ khoai lang (potato tubers) (Ishiguro et al., (2004)

(source:Yoshimoto and Yamakawa., 2003;Islam et al., 2003b)

Nếu dùng HPLC- High-performance liquid chromatography- là kỹ thuật dùng để tách một hỗn hợp của hợp chất được dùng trong hoá học và sinh hóa phân tách (analytical chemistry and biochemistry) để xác định tính đồng nhất, xác định số lượng, tính chất tinh chế của mọi thành phần có được nằm trong một hợp chất đó.

(source:Yoshimoto and Yamakawa., 2003;Islam et al., 2003b)

Dựa vào HPLC để đo hàm lượng anthocyanins của rau lang gặt hái vào mùa hè (ảnh hưởng theo nhiệt độ) vàrau lang đươc trồng ngoài trời (không bi che nắng hay bị che nắng ( temperature and shading), ta có đươc hàm lượng của các anthocyanins gồm 7 peonidin và 8 cyanidins derivatives của công thức nêu trên. Trong đó có hàm lượng anthocyanins cao nhất của rau lang là ở nhiệt độ 20C, và thấp hơn ở nhiệt độ 25C và 30C. Rau lang lại cho hàm lượng anthocyanins khi ở hoàn toàn ngoài nắng (in full sun) lại nhiều hơn cả những rau lang đươc che nắng tới 40% hay 80% (shade). Theo hình vẽ trên thì ta có kết qủa sau đây: YGM-1a> YGM-4b> YGM-1b> YGM-5a> YGM-0d> YGM-0a> YGM -2> YGM-0c> YGM-3> YGM-6> YGM-5b> YGM-0b> YGM-0f> YGM-0e> YGM-0g. (YGM: Yamagawamurashaki)

Ung thư xãy ra như qua tiến trình khởi đầu (initiation), tiến triển (promotion) và phát triển rộng qua các tế bào khác trong cơ thể (progression.) Rau lang là nguồn cung cấp tốt về antioxidants và antimutagenic compounds (hợp chất chống gây đột biến). Trong cuộc khảo cứu trên 82 loại thực vật để uống, nấu ăn,gồm những thành phần của cây, đều được thí nghiệm và áp dụng trong vai trò thử diệt các tế bào ung thư, thì kết qủa thấy rằng rau lang là có tỉ lệ cao trong việc chống ung thư (Islam.,2006).

Trong rau lang, khoa học cho biết rằng, chất nước đươc chiết xuất từ rau lang có công dụng ức chế rất hiệu qủa các vi trùng sinh sản làm ung thúi thực phẫm như sau đây: Staphylococcus aureus and Bacteria cereus as well as pathogene E coli. (University of Krkansas., 2005)

Tuy nhiên, việc dùng rau lang cần để ý là nó có chứa một chất hóa học gọi là oxalic acid, chất nầy vẫn giữ nguyên hàm lượng sau khi gặt hái, và nếu so sánh với loại rau là spinach thì hàm lượng của nó chỉ bằng 1/5 hàm lượng spinach mà thôi. Cần để ý thêm là oxalic acid nầy lại có nhiều trong những xí nghiệp chế biến (manufactures) chẳng hạn như: những chất tẩy trắng, những sản phẫm chống rỉ sét dùng để chứa đựng sản phẫm chế biến, và những hóa chất làm sạch kim loại, và trong thực vật thì nó được thấy trên những cây cho lá có màu xanh đậm có hàm lượng tương đối cao (có lẽ), (though is just that). Bởi lẽ, những hóa chất có trên được làm vật dụng chứa đựng, khi gặp muối chứa trong thực phẫm chế biến, đã chứa đựng trong hộp, liền kết hợp thành oxalic acid. Đó là lý đo -một trong nhiều lý do- tại sao khoa học luôn nhắc nhở rằng nên ăn rau cải tươi sống, thịt cá tươi sống, tránh tối đa dùng thực phẫm chế biến trong hộp. Oxalic acid đưa đến kidney stones (sạn thận). Để giải quyết vấn đề trên, khoa học khuyên là nên uống nhiều nước để tống khứ nó ra ngoài thay vì để nó tích tụ trong cơ thể, và dùng khá khá potassium để làm trung hòa phãn ứng của acid hay giãm thiểu sự hợp thành của sạn trong thận. Có nghĩa là tìm những rau cải có chứa nhiều potassium mà tiên thụ để hóa giải thực phẫm có chứa oxalic acid. Vã lại, nếu cơ thể thiếu potassium thì gây nên sự mệt mỏi (fatigue) về thể chất hay tinh thần, vì mệt nên các hóa chất tích tụ trong bắp thịt nhanh hơn là sự di chuyển của máu và tính dễ kích thích (irritability) của cơ thích ứng lại kém đi, là các tế bào trong cơ thể có khả năng đáp ứng đặc biệt với sự kích thích bên ngoài không còn nhạy bén, và tạo hypertension (cao huyết áp). Tăng huyết áp không thấy ngay các triệu chứng cho đến lúc thấy được triệu chứng của các biến chứng. Các triệu chứng như vưã sơ động mạch (atheroscierosis) là các mãng chất béo (fatty plaque) và các mô sẹo (scar tissue), phát triển tới mức độ làm tác- động lên lưu lượng máu chảy gây nên những cơn đau thắt ngực (angina pectoris) suy tim (heart failure), xuất huyết não (cerebral haemorrhage) và hư thận (keydney failure). Ngược lại, nếu tiêu thụ qúa nhiều hàm lượng của potassium thì gây nên sự buồn nôn (nausea), nôn mửa (vomiting) and even heart attack (nhồi máu cơ tim). Tuy nhiên tiêu thụ potassium từ thực vật thiên nhiên (from natural food sources) thì đươc xem như là an toàn và tốt cho sức khoẻ. Các thực vật có chứa hàm lượng potassium đươc thấy như sau: Tomatoes xấy khô, mushrooms, và sweet potato with Skin, Zucchi with skin, Asparragus. Có một điều thú vị là thực vật không những tự cung cấp những gì sống còn cho con người như ăn để sống, mà còn giúp để ngừa bịnh và cả trị bịnh cho mọi người trên thế gian, không kỳ thị bất cứ chũ nghiã con người đã mang, không than oán xin cầu, hay tự phụ kể công. Như trong khoai lang, khoa học tìm ra là rau lang, cọng, đọt có nhiều oxalic acid tạo ra sạn thận thì chính nó là cái củ khoai (nói riêng) hay rể cây, thân cây (nói chung) của các thực vật khác lại mang đầy đủ tính chất để khử trừ cái độc hại nếu có do chính nó tạo ra hay do các thực vật khác mang tới con người (như spinach chứa nhiều oxalic acid), thì nên dùng nhiều rau cải có nhiều potassium. Quý vị thấy, cây cỏ còn thương loài người từ lúc có con người cho đến ngày nay từ muôn muôn ngàn ngàn kiếp, không hề phản bội, thế mà con người, vì mang vào cái chù nghĩa, như chủ nghĩa Cộng sản, vì nhân danh tự do mà giết chết biết bao thế hệ, vì nhân danh công bằng mà chôn sống gần triệu người vô tội trong vụ CCRD miền Bắc, vì nhân danh đồng chí mà bán đất, bán hải đảo, rừng đầu nguồn, bán bauxite cho Tàu, tự nhân danh và tự cho mình là có quyền hành, bỏ tù mọi người dân yêu nước và giết hại biết bao người dân vô tội, phá nát đạo đức căn bản làm xã hội băng hoại, coi con người nhất là phụ nữ còn thua cả loài thú, thua cả chiếc xe đạp. Thương cho dân tộc VN chiệu qúa nhiều trăm ngàn nổi đau khổ khôn tả do những đầu óc ngu dốt, nông cạn, lạc hậu, ác ôn và lầm đường.

Những side effects của nó cần quan tâm:

1- Nếu các bà nếu có sự nhạy cãm đến huyết áp cao khi dùng các thưc vật, thì không nên dùng sweet potato (Velloso A et al., 2004)

2- Khi mua sweet potato mà thấy các vết đen hay nâu (black or brown) hay thâm (bruises) hay có có những điểm mềm (soft spots) hơn chổ khác, hay có những sự nứt nẻ (cracts) trên da trên mặt của của củ khoai, thì nên vứt bỏ, Vì rằng đó là do sự nhiễm trùng loại alternaria brassicicola. Loại nầy tiết ra một chất toxins, làm cho sweet potato khi ăn vào thấy đắng và sượng cứng (bitter) hay gọi là sùng. Chất toxins nầy sẽ làm hư gan (harm to human liver). Thật ra về biology chất nầy vẫn còn tồn động trong khoai, không bị hư hủy do nấu sôi, hay do hấp cao độ với nước, hay do rang trên lửa ở nhiêt dô cao. Đó là một chất độc, làm hại gan.

3 Sweet potato có chứa một loại diếu tố tên thông thường gọi là gasified enzyme. Nếu ăn qúa nhiều, nó gây heartburn (ợ chua) có cãm giác nóng ở phía sau xương ngực và thường từ ngực tới họng. Khi đó xuất hiện acid hay dịch chua trong dạ dày lên thực quản, hay viêm thực quản, acid regurgitation (ợ chua), là chất acid không tiêu hoá trong dạ dầy đươc đưa lên miệng), abdomain distension (vùng bụng căng phồng), belching (sự ợ) and other symptoms (nhiều triệu chứng khác). Cần lưu ý đây là cho biết là nếu ăn qúa nhiều khoai lang thì sẽ có các hiện tượng trên. Cái không thấy trong sweet potato là thiếu vắng protein và fat. Nên người Tây phương đề nghị dân chúng của họ nên ăn chung với những chất có nhiều protein và fat.

Kết luận:

“Food is medicine” là chân lý dinh dưỡng của thế kỷ 20-21. Nên nếu mọi người biết ăn đúng là uống thuốc đúng, uống thuốc đúng là ngăn ngừa bịnh tật phát triển có hiệu qủa nhất. Đây là cách ngừa bịnh hữu hiệu nhất, hay nhất, tiết kiệm nhất. Khoai lang, ai cũng biết dùng để ăn lúc đói, lúc no, lúc nghèo, lúc giàu, lúc đủ ăn hay thiếu ăn, từ lâu, nhưng ít ai biết chúng có thành phần gì trong đó. Tôi biên khảo bài nầy để giúp đồng bào mình, khi đọc và hiểu những thành phần hóa học hữu ích có trong nó, mình nên áp dụng, với hàm lượng đúng và đủ để cải thiện và ngăn ngừa bịnh tật. Tôi cũng nêu rõ khoai sùng có độc chất nên tránh, và những side effects của khoai lang nếu ăn qúa nhiều. Nước Nhật đã biết áp dụng nó trong việc trị liệu bịnh tiểu đường và những bịnh khác, tại sao người VN mình không thực hiện. Hơn nữa, tôi cũng nêu trong biên khảo về cách nấu, steam, hấp vv để mọi người hiểu để áp dụng trong việc ăn uống hầu kiểm soát hàm lượng đướng trong máu. Nếu bài nây giúp qúy vị cải thiện sức khoẻ được tốt hơn thì đây là niềm vui của tôi.

Đối với tôi, môt ngày hạnh phúc nhất của tôi là mỗi buổi sáng thức dậy, được uống một ly càfê sửa nóng, và đươc ăn môt củ khoai lang bột tím đậm (gọi là khoai lang dương châu). Việc nấu khoai lang bằng cách lấy bùi nhùi kim loại làm sạch vỏ rồi gói trong một tờ giấy bỏ vào microwave trong 3-4 phút. Tât cả sự thư thái an lạc và tự tại hiện ra nơi tôi. Như vậy, dinh dưởng đúng, có thể đạt được cái an lạc gọi là “thiền” của người học thiền. Nếu đã tu tập “thiền” cộng với việc dinh dưởng đúng kể trên như uống trà xanh của Nhật, ăn khoai lang ngọt dương châu, cả hai thứ sẽ giúp qúy vị mau cãm nhận niềm an lạc tư tại có được đến sớm hơn sự mong đợi khi ngồi tỉnh tâm thiền….

Chúc qúy vị hôm nay được nhiều sức khỏe và an lạc hơn ngày hôm qua.

(Tạm dừng phần 1)

BÙI THẾ TRƯỜNG

Lập đông, Ùc Châu.2012

References:

1-Berberich T , Takagi T , Miyazaki A , Otani M , Shimada T , Kusano T (2005). Production of mouse adiponectin, an anti-diabetic protein, in transgenic sweet potato plants . J Plant Physiol 162:1169-1176.
2-Chen CM , Li SC , Lin YL , Hsu CY , Shieh MJ , Liu JF (2005). Consumption of purple sweet potato leaves modulates human immune response: T-lymphocyte functions, lytic activity of natural killer cell and antibody production . World J Gastroenterol .11:5777-5781.
3 Ching LS , Mohamed S .(2001) Alpha-tocopherol content in 62 edible tropical plants . J Agric Food Chem .49:3101-3105. sweet potato Phytochemistry .44:183-186.

4 Han kH et al., (2006c) Red potato extract protects from D galactosamine induced liver injury in rats Biosci Biotechnol Biochem vol 70, pp 2285-88

5Han KH et al, (2006b) hepatoprotective effects of purple potato extract against d-galactosamine ubduced kiver injury in ratsm Biosci Biotechnot Biochem 70, 1432-37

6Han kH et al (2008) Feeding potato flakes cecalshort chain fatty acid, microflora and fecal bile acid in rats Ann Metab vol 52, pp1-7

7-Haysashi K et al., (2006) Induction of apoptosis in cultured human stomach cancer cells by potato anthocyanins and its inhibitory effects on growth of stomach cancer in mice. Fo od Sci Technol Res 9, 242-44

8-Hayase F , Kato H (1984). Antioxidative components of sweet potatoes . J Nutr Sci Vitaminol .30:37-46.

9-Hayashi et al., (2003) Anti-influenza virus activity of a red fleshed potato anthocyanins. Food science Tech nology Res 9; pp 242-244

10-Haskell MJ , Jamil KM , Hassan F , et al (2004). Daily consumption of Indian spinach ( Basella alba ) or sweet potatoes has a positive effect on total-body vitamin A stores in Bangladeshi men . Am J Clin Nutr .80:705-714.

11 P Jing, JA Bomser, SJ Schwartz et al 2008 Structure function relationships of Anthocyanin from various anthocyanin-rich Extracts on the Inhibition of Colon cancer cell growth , J. Agric Food Chemi, vol 10, pp 1021

12-Kano M , Takayanagi T , Harada K , Makino K , Ishikawa F . (2005) Antioxidative activity of anthocyanins from purple sweet potato (Ipomoera batatas cultivar Ayamurasaki . Biosci Biotechnol Biochem .69:979-988.

13-Kater M.M et al (1998) Dep of Deve ;op Biology and Reproduction Research Wageningen The Netherlands

14-Konczak I , Okuno S , Yoshimoto M , Yamakawa O . (2004) Caffeoylquinic acids generated in vitro in a high-anthocyanin-accumulating sweet potato cell line . J Biomed Biotechnol .5:287-292.

15-Konczak –Islam I et al., (2003) Potential chemopreventive properties of anthocyanins rich aqueous extracts from in vitro produced tissue of sweet potato. J Agri Fo d Chem vol 51 5916-22

16-Konczak-Islam I , Yoshimoto M , Hou D , Terahara N , Yamakawa O . Potential chemopreventive properties of anthocyanin-rich aqueous extracts from in vitro produced tissue of sweetpotato ( Ipomoea batatas L.) . J Agric Food Chem . 2003;51:5916-5922.

17-Kusano S , Abe H . (2000) Antidiabetic activity of white skinned sweet potato (Ipomoea batatas L.) in obese Zucker fatty rats . Biol Pharm Bull .23:23-26.

18-Kusano S , Abe H , Tamura H (2001). Isolation of antidiabetic components from white-skinned sweet potato( Ipomoea batatas L.) . Biosci Biotechnol Biochem .65:109-114.

19-Lim, Ted Carey and John C. Pair april (2009) A purple swe et potato with antiangiogenic showed increased antiCancer activity, Uni Kansas

20-Lim, Ted Carey and Jhon C . Pair., April (2009), Anthocyanin rich purple sweet potato Depart of Human Nutrition Đại học Kansas State University, Manhattan

21-Ludvik BH, Waldhausl W , Prager R , Kautzky-Willer A , Pacini G . (2003) Mode of action of Ipomoea batatas (Caiapo) in type 2 diabetic patients . Metabolism 52:875-880.

22-Ludvik BH , Mahdjoobian K , Waldhaeusl W , et al (2002). The effect of Ipomoea batatas (Caiapo) on glucose metabolism and serum cholesterol in patients with type 2 diabetes: a randomized study.Diabetes Care .25:239-240

23-Ludvik, Bernhard, H., et al.(2002) The effect of Ipomoea batatas (caiapo) on glucose metabolism and serum cholesterol in patients with type 2 diabetes. Diabestes Care, Vol. 25, January 2002, pp. 239-40

24-Matsui T , Ebuchi S , Fukui K , Matsugano K , Terahara N , (2004). Caffeoylsophorose, a new natural alpha-glucosidase inhibitor, from red vinegar by fermented purple-fleshed swe et potato Biosci Biotechnol Biochem .v.68: pp2239-2246.

25-Maeshima M , Sasaki T , Asahi T (1985). Characterization of major proteins in sweet potato tuberous roots . Phytochemistry .24:1899-1902.

26-Matsui T , Ueda T , Oki T , Sugita K , Terahara N , Matsumoto K . (2001) α-Glucosidase inhibitory action of natural acylated anthocyanins. 1. Survey of natural pigments with potent inhibitory activity . J Agric Food Chem .v 49:pp 1948-1951.

27-Miyazaki Y , Kusano S , Doi H , Aki O (2005). Effects on immune response of antidiabetic ingredients from white-skinned sweet potato (Ipomoea batatas L.) . Nutrition .21:358-362..

28-Naito et al., (1998) Acylated pelargonidin glycosides from red potato. Phytochemistry vol 47, pp109-112

29-Reddivari et al, (2007) Anthocyanin fraction from potato extracts us cytitoxic to prostate cancer cells through activation of caspase dependent and caspase independent pathways vol 47, pp 109-112

30-Runnie I , Salleh MN , Mohamed S , Head RJ , (2004). Vasorelaxation induced by common edible tropical plant extracts in isolated rat aorta and mesenteric vascular bed . J. Ethnopharmacol .92:311-316.

31-Suzuki T , Tada H , Sato E , Sagae Y (1996). Application of sweet potato fiber to skin wound in rat . Biol Pharm Bull .19:977-983.

32-Thompson MD et al., (2009) Functional Foơd characteristics of potato cultivars, phytochemical cpmposition and inhibition of 1–methyl-101 nitrosourea induced breast cancer in rats. J Food Compos Anal in press

33-Velloso A , Baeza M , Tornero P , et al. (2004) Anaphylaxis caused by Ipomoea batatas . J Allergy Clin Immunol .113:S242.

34-van Jaarsveld PJ , Faber M , Tanumihardjo SA , Nestel P , , (2005) Beta-carotene-rich orange-fleshed sweet potato improves the vitamin A status of primary school children assessed with the modified-relative-dose-response test . Am J Clin Nutr 81:1080-1087.

35 Visvikis A et al 2003 The changing faces of glutathione. A cellular protagonist. In Biochemical Pharmacology 66 ( 8) 1499-1505

36-Yoshimoto M et al (1999) Antimutagenicity of sweet potato roots. Kyushu National Agricultural Expe Station Miyazaki Japan

37-Yoshimoto M , Okuno S , Yoshinaga M , Yamakawa O , Yamaguchi M , Yamada J ., (1999). Antimutagenicity of sweetpotato ( Ipomoea batatas ) roots . Biosci Biotechnol Biochem .63:537-541.

38-Xie QH et al., (2004) Anti tumor activity of specially potatoes Chinese Potato 18, 213-214

39-Xie QH et al., (2002,2003) Multiple utilization of specialty potatoes Chinese Potatoes 17, 362 363(Ludvik, Bernhard, H., et al.2002

40-Zhao G , Kan J , Li Z (2005) Chen Z . Characterization and immunostimulatory activity of an (1→6)-a-D-glucan from the root of Ipomoea batatas . Int Immunopharmacol .;5:1436-1445.

41-Zhu H<, and Zhao M., 2010. Extraction and antioxidation Properties of Purple swe et potato. College engine ering, Shanxi Normal University, Linfen China,

42-Wilson BJ , Burka LT (1979). Toxicity of novel sesquiterpenoids from the stressed sweet potato (Ipomoea batatas ) . Food Cosmet Toxicol .;17:353-355.

43-Cummings JH et al., 1996. Digestion and physiological properties of resistant starch in the human large bowel. Br Journal Nutri, vol 75 (5) pp 733-747

44- Hyllas s et al., 1998. Effects of resistant starch on the colon in healthy volunteers: possible implications for cancer prevention, Am.J.. Clin Nutr 67 (1), pp:136-42

45 Raben A et al., 1994. Resistant starch: the effect on postprandial glycemia, hormonal response, and satiety. Am J.Clin. Nutr 67 (1); pp544-551

46-Jones, BE (2005). “From waking to sleeping: neuronal and chemical substrates”. Trends in pharmacological sciences 26 (11); pp 578–86.

47- Himmelheber, AM; Sarter, M; Bruno, JP (2000). “Increases in cortical acetylcholine release during sustained attention performance in rats”. Brain research. Cognitive brain research 9 (3): pp 313–25.:

48- Kusano. Tumasu and Nakatsugawa. (2000): Research Institute, Fuji Sangyo Co., Ltd., Marugame, Kagawa, Japan. Biol Pharm Bull. 23(1): pp 23-6.

49-Ishiguro K.L et al (2004). A new sweet potato cultivar forutilization in vegetable Greens Act Horti vol 637; pp339-45

50- Islam S ., (2006). Sweet potato leaves: Its Potential effects on Human Health and Nutrition “J. Food. Science vol 71, pp R13-R21

51- Woofle JA (1992) Swe et potato An Untapped Food Resource, Cambridge University Press UK., pp 118-187

52 www.uaex.edu/Other_Areas/publications/PDF/FSA-6135.pdf\

53-National Agriculture research Center for Kyushu Okinawa Region Japan., 2005

54-Yoshimoto and Yamakawa et al., 2003; Polyphenol content and antimutagenicity of sweet potato leaves in relation to commercial vegetables. Acta Hor 628;pp677-685

55-Islam MS et al., 2003b Effect of artificial shading and temperature on the radicalscavenging activities and polyphenolic compositions in swe et potato leaves J. Amer Soc Hort Sci vol 128,pp:111-116

http://khoahocnet.com/